Tin học [ Đăng ngày (13/09/2012) ]
Phần mềm nguồn mở là gì?
Theo Wikipedia, phần mềm nguồn mở (PMNM) là phần mềm với mã nguồn được công bố và sử dụng một giấy phép nguồn mở. Giấy phép này cho phép bất cứ ai cũng có thể nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phần mềm, và phân phối phần mềm ở dạng chưa thay đổi hoặc đã thay đổi [1].

Điều này không có nghĩa là chúng có thể được sao chép, sửa chữa thoải mái hay sử dụng vào mục đích nào cũng được. Mã nguồn mở được công bố dưới rất nhiều điều kiện khác nhau, một số trong đó cho phép phát triển, sử dụng và bán tùy ý miễn là giữ nguyên các dòng về nguồn gốc sản phẩm, một số bắt buộc tất cả các sản phẩm làm ra từ đó cũng phải là phần mềm mã nguồn mở, một số khác đòi hỏi phải công bố trọn vẹn mã nguồn, một số khác không cho phép sử dụng vào mục đích thương mại, một số khác lại không có ràng buộc gì đáng kể v.v … Cho dù với điều kiện sử dụng như thế nào đi chăng nữa, phần mềm nguồn mở đem lại cho các tổ chức, doanh nghiệp và người sử dụng những lợi ích sau:

a. Sự tự do: khi các tổ chức, doanh nghiệp và người dùng chuyển sang sử dụng phần mềm mã nguồn mở, họ sẽ thoát khỏi sự kiểm soát và những yêu cầu khắt khe về giá cả, thời gian sử dụng sản phẩm của các nhà cung cấp độc quyền phần mềm có bản quyền; có thể kiểm soát được việc tự ra quyết định và nhiều lựa chọn phần mềm mà không phụ thuộc vào công ty nào; luôn có một cộng đồng rộng lớn gồm các nhà thiết kế, phát triển và những người sử dụng khác sẵn sàng hỗ trợ, chia sẽ thông tin và kinh nghiệm.

b. Chất lượng: phần mềm thương mại do một nhóm thiết kế của một công ty thực hiện, trong khi phần mềm nguồn mở được sáng tạo bởi rất nhiều nhà thiết kế và người sử dụng để hoàn thiện nó theo đúng nhu cầu và giá trị kỳ vọng thực tế của họ. Điều mà các nhà cung cấp phần mềm bản quyền có thể thường xuyên đáp ứng nhanh được yêu cầu của công đồng người sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn. 

c. Tính linh hoạt: tổ chức, doanh nghiệp và người sử dụng có thể sử dụng phần mềm nguồn mở trên các phần cứng máy tính lỗi thời hơn. Trong khi, phần mềm bản quyền như Windows và Office của Microsoft luôn yêu cầu người dùng phải tuân thủ việc nâng cấp phần mềm và phần cứng. Đối với việc sử dụng phần mềm nguồn mở, không phải các nhà cung cấp, mà chính người sử dụng mới là người quyết định khi nào cần cập nhật các phần mềm.

d. Tính tương thích: phần mềm mã nguồn mở có khả năng tương thích với các chuẩn mở tốt hơn là các phần mềm bản quyền. Đồng thời cũng không bị giới hạn bởi những định dạng dữ liệu giữa các phiên bản cũ và mới trong phần mềm nguồn mở. 

e. Tính an toàn: mã nguồn được phổ biến rộng rãi giúp tổ chức, doanh nghiệp và người sử dụng dễ phát hiện, khắc phục các lỗ hổng an toàn trước khi chúng bị lợi dụng. Đa phần các lỗi hệ thống của phần mềm nguồn mở được phát hiện trong quá trình rà soát định kỳ và được sửa trước khi gây ra bất kỳ thiệt hại nào. Các hệ thống phần mềm nguồn mở thường có quy trình rà soát chủ động chứ không phải rà soát đối phó. Chính sự công khai mã nguồn và các yếu tố trọng tâm của mã nguồn mở mà các lỗi kỹ thuật nhanh chóng được cộng đồng phát hiện và xử lý nhanh chóng, cải thiện tính an toàn. Đây là điều hoàn toàn trái ngược với phương châm sự an toàn có được nhờ vào tính bí mật, vốn thường được sử dụng để đánh giá các phần mềm có bản quyền thương mại khác.

f. Bản quyền: theo đánh giá của Liên minh phần mềm Quốc tế BSA, Việt Nam vẫn là 1 trong 10 nước có tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm cao nhất thế giới. Năm 2011, Việt Nam được cho là có tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm máy tính là 81% [2]. Đây là một vấn đề không thể giải quyết trong ngày một ngày hai… Việc chuyển sang sử dụng phần mềm nguồn mở bước đầu gặp không ít khó khăn nhưng là một trong những giải pháp giúp cải thiện đáng kể tình trạng vi phạm bản quyền hiện nay, mang lại những cơ hội tiết kiệm chi phí sở hữu phần mềm, thu hẹp khoảng cách trình độ công nghệ, nghiên cứu sáng tạo, tôn trọng các giá trị của sản phẩm trí tuệ đồng thời với nâng cao năng lực cạnh tranh lành mạnh.

g. Chuẩn công nghệ mở: phần mềm nguồn mở trong quá trình sử dụng rộng rãi trong các khu vực hay ngành nghề nhất định sẽ tự hình thành nên những chuẩn mở. Khi sử dụng phần mềm nguồn mở, người sử dụng được xem như tham gia vào quá trình xây dựng chuẩn cho ứng dụng phần mềm nguồn mở, chuẩn công nghệ mở cho địa phương, quốc gia để đảm bảo rằng những chuẩn đó sẽ phù hợp với đặc điểm văn hóa và nhu cầu thực tế của địa phương, quốc gia đó.

h. Tính tùy biến: các tổ chức, doanh nghiệp và người sử dụng có thể biến đổi một phần của gói phần mềm mã nguồn mở để biến chúng phù hợp với những nhu cầu của mình. Nhờ vào tính mở của các mã nguồn mà các tổ chức, doanh nghiệp có thể tùy chỉnh, phát triển bổ sung thêm tính năng để cung cấp như dịch vụ công, dịch vụ có thu phí. Điều này rất khó thực hiện đối với những phần mềm có bản quyền thương mại. Ngay cả khi phải trả phí cao cho nhà cung cấp phần mềm có bản quyền để được quyền thay đổi mã nguồn, các tổ chức, doanh nghiệp vẫn bị một số các điều kiện ràng buộc nhất định và nằm trong tầm kiểm soát của nhà cung cấp.

k. Đào tạo nguồn nhân lực CNTT: tính mở và tính cộng đồng của phần mềm nguồn mở là điều kiện tốt cho việc nghiên cứu, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, đáp ứng các yêu cầu triển khai sử dụng phần mềm nguồn mở cho các tổ chức nhà nước, doanh nghiệp. Với các công cụ phát triển ứng dụng phong phú, các tài liệu công nghệ có thể tự do tải về từ mạng internet, các kho mã nguồn do cộng đồng nguồn mở trên thế giới phát triển và cung cấp miễn phí, việc đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu và phát triển CNTT có bài bản sẽ tạo ra những sản phẩm hoàn toàn có thể thay thế các sản phẩm thương mại.

Tài liệu tham khảo:

[1] http://en.wikipedia.org/wiki/Open_source

[2]http://ictnews.vn/home/CNTT/4/Ti-le-vi-pham-ban-quyen-phan-mem-giam/102561/index.ict

[3] http://en.wikipedia.org/wiki/Cloud_computing

[4] http://en.wikipedia.org/wiki/E-Government
N.Tùng - Tổng hợp
Theo Hội thảo hợp tác phát triển CNTT-TT Việt Nam lần XVI
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->