Nông - Lâm - Ngư nghiệp
[ Đăng ngày (28/08/2012) ]
|
|
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng đến khả năng phát sinh mô sẹo và tái sinh cây Invitro từ phôi trưởng thành ở cây đậu tương (Glycine max (L) merrill)
|
|
|
Nghiên cứu do nhóm tác giả Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Trí Thức, Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Văn Hồng và Ngô Xuân Tình – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên thực hiện.
|
Ảnh minh họa
Thí nghiệm được tiến hành trên giống đậu tương DT84 tại Phòng thí nghiệm Công nghệ Tế bào, Khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Mảnh lá mầm hạt và phôi trưởng thành của giống đậu tương DT84 được tách riêng rẽ và nuôi cấy trên môi trường MS có bổ sung 2,4D ở các nồng độ khác nhau (0 mg/l, 10 mg/l, 20 mg/l, 30 mg/l, 40 mg/l, 50 mg/l). Sau 6 tuần nuôi cấy, tỷ lệ mẫu phát sinh mô sẹo dao dộng từ 74,8 đến 100%. Tỷ lệ hình thành mô sẹo cao nhất (100%), chất lượng tốt nhất (mô sẹo có màu xanh sáng hoặc trắng rắn) ở nồng độ 30 mg 2,4D trên một lít môi trường nuôi cấy. Sử dụng BAP có thể nâng cao khả năng tái sinh chồi của giống đậu tương DT84. Nồng độ 1,5 mg BAP/l thích hợp cho tái sinh chồi. Tỷ lệ mẫu tái sinh chồi đạt 7,33% (tái sinh từ mô sẹo) và 47,3% (tái sinh trực tiếp từ mầm phôi hạt không qua giai đoạn hình thành mô sẹo). Nồng độ kinetin thích hợp cho tái sinh chồi là 2,0 mg/lít môi trường nuôi cấy. Tỷ lệ mẫu tái sinh chồi đạt 5,33%, tuy nhiên sử dụng kinetin để kích thích tạo chồi cho hiệu quả thấp hơn so với sử dụng BAP.
Kết quả nghiên cứu này là tiền đề quan trọng trong việc ứng dụng chuyển gien ở cây đậu tương nói riêng và trên cây trồng nói chung.
|
Theo Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn số 14/2012 (nthieu)
|