Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá khả năng áp dụng phương thức tưới nước cho lúa theo hệ thống thâm canh lúa (RSI) và xác định mật độ cấy phù hợp trên đất không chủ động ở Võ Nhai, Thái Nguyên. Đối tượng nghiên cứu là giống lúa Khang Dân 18 được cấy trong vụ mùa 2011 trên đất không chủ động tại xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Nội dung tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và chế độ nước đến khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của lúa Khang Dân 18 trong vụ mùa 2011.
Qua quá trình nghiên cứu cho thấy, về chế độ nước so với chế độ nước theo tập quán thì chế độ nước theo SRI đã làm tăng chiều dài rễ, tăng khả năng tích lũy chất khô của rễ lúa ở cả hai thời kỳ trỗ và chín, làm cho rễ lúa phát triển xuống tầng sâu hơn của đất, qua đó làm tăng khả năng đẻ nhánh và làm tăng số bông/ khóm và số bông/ m2 của lúa và làm tăng khối lượng 1000 hạt lúa. Về mật độ cấy: mật độ cấy thưa đã ảnh hưởng tốt đến khối lượng rễ khô ở cả 3 tầng đất 0 - 5 cm, 5 -1 cm, 10 - 2 cm. Mật độ cấy thưa cũng làm tăng số nhánh/ khóm qua đó làm tăng số bông/ khóm của lúa. So với mật độ 50 khóm/ m2 và 25 khóm/m2, mật độ 33 khóm/m2 là hợp lý ảnh hưởng tốt tới các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất lúa. Về sự ảnh hưởng tương tác giữa chế độ nước và mật độ cấy: có sự ảnh hưởng tương tác giữa chế độ nước và mật độ cấy tới chiều dài rễ lúa ở thời kỳ chín, tới số nhánh/ khóm, số nhánh/ m2, khối lượng 1000 hạt và tới tỷ lệ bệnh và chỉ số khô vằn.
Tổng hợp ảnh hưởng độc lập và tương tác của 2 nhân tố chế độ nước và mật độ cấy cho thấy công thức tưới nước theo SRI với mật độ 33 khóm/m2 (A2B2) là tốt nhất. So với công thức tưới nước theo tập quán mật độ 50 khóm/m2 thì công thức này đã làm tăng chiều dài rễ 21,6%, số nhánh đẻ/ khóm 42,9%, số bông/ khóm 31%, số hạt chắc/ bông 28,3%, giảm bệnh khô vằn ở lúa và kết quả là tăng năng suất thực thu là 12,4% so với tập quán canh tác truyền thống. |