Ảnh minh họa
Đa số thức ăn cho gia súc có nguồn gốc từ các hạt thực vật, đặc biệt là ngũ cốc đều có chứa sẵn phốt pho. Chính vì vậy, để tận dụng nguồn phốt pho có sẵn trong thành phần của các nguyên liệu thực vật, tăng hệ số sử dụng thức ăn của vật nuôi, giảm lượng axit phytic thải ra ngoài môi trường thì ngoài việc chuyển các hợp chất phốt pho ở dạng khó phân hủy này thành các chất đơn giản hơn là rất quan trọng. Để đạt được điều đó, người ta dùng phyzata để thủy phân axit phytic.
Phytaza cũng như tất cả các enzym khác đều có sẵn trong mô, cơ quan của động, thực vật và tế bào vi sinh vật. Phytaza được phát hiện đầu tiên vào năm 1907, đến năm 1994 thì những ứng dụng của phytaza bắt đầu được đẩy mạnh. Người ta đã sản xuất phytaza dưới dạng các chế phẩm dạng bột, hoặc dạng nước dùng bổ sung vào thức ăn gia súc và gia cầm, nhằm tăng hệ số sử dụng thức ăn của vật nuôi.
Đề tài “Hoàn thiện công nghệ sản xuất enzym phytaza để bổ sung vào thức ăn chăn nuôi và phục vụ một số ngành công nghiệp” với sự tham gia thực hiện của chủ nhiệm đề tài là PGS.TS Nguyễn Thùy Châu cùng nhiều cán bộ, là kết quả của đề tài cấp Nhà nước KC-04-20: “Nghiên cứu áp dụng công nghệ vi sinh hiện đại để sản xuất chế phẩm giàu axit amin và enzym từ nguồn thứ phẩm công nghiệp và thủy hải sản ở quy mô bán công nghiệp” được nghiệm thu cấp Nhà nước ngày 18/04/2006.
Mục tiêu của đề tài bao gồm: Có được dây chuyền công nghệ và thiết bị sản xuất chế phẩm phytaza quy mô 50 tấn/năm. Hoạt tính phytaza thô hoạt tính đạt 2500 IU/g; phát triển sản xuất enzym phytaza dùng trong chăn nuôi và một số ngành công nghiệp khác.
Kết quả của đề tài là đã tuyển chọn được các chủng A. niger có hoạt lực phytaza cao, hoạt lực của các chủng phân lập dao động từ 9 đến 13 IU/ml.
Có thể tìm đọc toàn bộ Báo cáo KQNC Đề tài (số lưu trữ: 8115/2010) tại Cục Thông tin KH&CN Quốc gia (http://db.vista.gov.vn). |