(Ảnh minh họa)
Dơi đóng vai trò quan trọng trong môi trường sống tự nhiên, đặc biệt trong hệ sinh thái nông nghiệp. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu dơi còn rất hạn chế. Cho đến nay, hơn 100 loài dơi được ghi nhận ở nước ta; trong đó, có sáu loài dơi muỗi (Pipistrellus spp). Những loài dơi muỗi phân bố rộng, thường gặp ở cả khu vực rừng núi, nông thôn và vùng đô thị.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về các loài dơi muỗi ở Việt Nam. Thực tế, việc định loại những loài dơi muỗi thường gặp nhiều khó khăn vì chúng có kích thước cơ thể nhỏ, có nhiều đặc điểm hình thái tương tự nhau. Căn cứ vào những tư liệu và đặc điểm hình thái của mẫu vật dơi muỗi ghi nhận được từ những nghiên cứu đã mô tả đặc điểm nhận dạng bốn loài dơi thuộc giống Pipistrellus thường gặp trong các hệ sinh thái nông nghiệp ở Việt Nam.
- Dơi muỗi Nhật Bản (Pipistrellus abramus): Có kích thước cơ thể nhỏ. FA: 28 - 35 mm; CCL: 10,5 - 11,5 mm; BM: 3,5 - 6 g. Bộ lông đồng màu nâu nhạt, lông phần bụng thường nhạt màu hơn phần lưng. Vành tai, phần mõm và màng cánh màu nâu sẫm hơn so với bộ lông. Răng nanh trên thường chẻ đôi. Răng trước hàm trên nhỏ, thường ẩn khuất trong hàng răng; chỉ còn phần nhỏ lộ diện khi nhìn từ mặt bên của hàng răng. Sụn ngọc hành của Dơi muỗi Nhật Bản rất dài, dài hơn cả chiều dài của xương chày. Loài dơi này gặp phổ biến ở Hà Nội, Hải Dương và Tuyên Quang trong thời gian thực hiện nghiên cứu này.
- Dơi muỗi Xây Lan (Pipistrellus ceylonicus): Có kích thước cơ thể cỡ trung bình so với các loài dơi khác trong cùng giống Pipistrellus. FA: 32 - 43 mm; CCL: 12,5 - 15 mm; BM: 6 - 9 g. Màu của bộ lông từ nâu xám đến nâu hạt dẻ. Một số cá thể có lông màu nâu vàng ở phần lưng và màu trắng đục ở phần bụng. Vành tai, phần mõm và màng cánh có màu nâu sẫm. Răng nanh hàm trên chẻ đôi rõ. Răng trước hàm trên nhỏ, không lộ diện khi nhìn từ mặt bên của hàng răng. Sụn ngọc hành của Dơi muỗi Xây Lan ngắn. Dơi muỗi Xây Lan sống nhiều kiểu sinh thái khác nhau: từ vùng khô cằn đến các hệ sinh thái nông nghiệp, rừng núi và cả những khu vực đô thị. Loài dơi này thường ở trong những ngôi nhà cũ, lăng tẩm, hõm cây và hang động. Chúng có thể sống đơn lẻ hoặc theo đàn bao gồm hàng trăm cá thể. Thức ăn của dơi muỗi Xây Lan là các loài côn trùng: bọ cánh cứng, ngài, ruồi và nhiều loại côn trùng khác. Dơi muỗi Xây Lan sống ở một số địa điểm thuộc hệ sinh thái nông nghiệp trong vùng đệm của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
- Dơi muỗi nâu (Dơi muỗi Ấn Độ - Pipistrellus coromandra): Có kích thước cơ thể nhỏ. FA: 32 - 36 mm; CCL: 10 - 12 mm; BM: 4 - 5,5 g. Bộ lông có màu nâu sẫm, phần bụng thường nhạt màu hơn phần lưng. Vành tai, phần mõm và màng cánh màu nâu sẫm. Răng nanh trên chẻ đôi rõ. Răng trước hàm trên ở trong hàng răng, có thể nhìn thấy một phần khi nhìn từ mặt bên của hàng răng. Sụn ngọc hành của Dơi muỗi nâu rất ngắn. Loài dơi này sống ở nhiều hệ sinh thái khác nhau: từ khu vực rừng núi đến các hệ sinh thái nông nghiệp và cả một số khu vực đô thị. Chúng sống đơn lẻ hoặc theo đàn gồm một vài cá thể ở trong các tòa nhà cũ, hõm cây, lăng tẩm và một số nơi khác. Dơi muỗi nâu sử dụng siêu âm theo dạng sóng FM, có tần số trong vũng năng lượng cực địa từ 38 đến 46 kHz. Thức ăn của dơi muỗi nâu bao gồm: ruồi, kiến và một số loài côn trùng nhỏ. Loài dơi muỗi nâu được ghi nhận ở nhiều tỉnh/thành phố của nước ta, bao gồm: Hà Nội, Lâm Đồng, Nghệ An, Quảng trị, Quảng Nam và Khánh Hòa.
- Dơi muỗi xám (Dơi muỗi Rava – Pipistrellus javanicus): Có kích thước cơ thể nhỏ. FA: 28 - 37 mm; CCL: 11,5 - 13,5 mm; BM: 4 - 7,5 g. Bộ lông đồng màu nâu, phần bụng nhạt màu hơn phần lưng. Vành tai, phần mõm và màng cánh đồng màu nâu sẫm. Răng nanh trên chẻ đôi. Răng trước hàm trên phát triển, có thể nhìn thấy phần lớn từ góc nhìn mặt bên của hàng răng. Sụn ngọc hành ngắn. Dơi muỗi xám thường sống theo đàn nhỏ trong các hệ sinh thái khác nhau: từ rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, rừng trồng, hệ sinh thái nông nghiệp và cả một số khu vực đô thị. Thức ăn của dơi muối xám cũng bao gồm kiến, ruồi và một số loài côn trùng cỡ nhỏ khác. Dơi muỗi xám sử dụng siêu âm dạng sóng FM, tần số dao động từ 45 đến 75 kHz. Mỗi năm, dơi muỗi xám có ba mùa sinh sản. Mỗi lứa, dơi muỗi xám thường đẻ 1 đến 2 con. Trong thời gian thực hiện nghiên cứu này, đã ghi nhận loài dơi này ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Copia thuộc tỉnh Sơn La.
Nghiên cứu đã mô tả chính xác đặc điểm nhận dạng 4 loài dơi: Dơi muỗi Nhật Bản (Pipistrellus abramus), dơi muỗi Xây Lan (Pipistrellus ceylonicus), dơi muỗi Ấn Độ (Pipistrellus coromandra), và dơi muỗi Rava (Pipistrellus javanicus). Đây là cơ sở cho các bước nghiên cứu tiếp theo nhằm phân loại một cách chính xác các loài dơi nói chung, dơi muỗi nói riêng trong hệ sinh thái nông nghiệp Việt Nam.
|