Nông - Lâm - Ngư nghiệp [ Đăng ngày (12/01/2012) ]
Đề tài “Đánh giá và đề ra biện pháp bảo vệ, phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản của thành phố Cần Thơ”
Ngày 09/01/2012, Sở Khoa học và Công nghệ Cần Thơ đã tổ chức Hội đồng khoa học nghiệm thu đề tài “Đánh giá và đề ra biện pháp bảo vệ, phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản của thành phố Cần Thơ” do Ths Lê Ngọc Diện làm chủ nhiệm.

Đề tài nhằm mục tiêu khảo sát, đánh giá và xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn lợi thủy sản (NLTS) ở Tp. Cần Thơ; đề xuất biện pháp bảo tồn, tái tạo các loài thủy sản có nguy cơ cạn kiệt. Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung như: xác định thành phần giống loài thủy sản (tôm, cá) phân bố trong các thủy vực ở thành phố Cần Thơ; ước tính trữ lượng NLTS hiện có. Đánh giá biến động quần đàn và xác định mức độ khai thác tối ưu (Eopt) cho một số loài cá có giá trị kinh tế; nghiên cứu mùa vụ sinh sản của một số loài thủy sản có giá trị kinh tế; điều tra hiện trạng khai thác nguồn lợi thủy sản ở thành phố Cần Thơ; đề xuất các giải pháp bảo vệ, duy trì, phát triển, đề xuất nghiên cứu về sinh sản và nuôi một số loài có giá trị kinh tế theo danh mục các loài cá kinh tế của Bộ Thủy sản (2005).

Qua thời gian nghiên cứu cho thấy: Độ tuổi người tham gia khai thác thủy sản trên địa bàn thành phố Cần Thơ trung bình là 43,5 tuổi, trình độ học vấn của người tham gia khai thác thủy sản chủ yếu là cấp I chiếm 66,1%. Trong đó trình độ cấp III chiếm thấp nhất là 4,7%. Ngoài ra còn có 10,3% mù chữ, quận Thốt Nốt chiếm tỉ lệ mù chữ cao nhất là 14,3%. Do đó nhận thức về bảo vệ NLTS chưa cao, chưa nhận thức được tầm quan trọng trong cải tiến kỹ thuật khai thác thủy sản; thành phần cá, tôm phân bố ở thành phố Cần Thơ khá đa dạng. Qua khảo sát thực địa đã xác định được dang mục gồm 120 loài cá thuộc 33 Họ, 72 Giống trong 11 Bộ. So với các tài liệu đã có thì thành phần loài qua đề tài này còn một số chưa thấy hiện diện như các loài thủy sản có kích thước nhỏ và không có giá trị khai thác do giới hạn về ngư cụ thu mẫu như cá Bạc đầu (Aplocheilus panchax), cá Thia thia (Betta taeniata), cá Thia thia (Betta splendens), cá Dầy (Channa lucius), cá Bống mắt tre (Brachygobius doriae), cá Thòi lòi (Periophtalmodon schlosseri), hoặc một số loài trước đây chỉ là đối tượng nuôi, chưa thấy hiện diện trong thủy vực tự nhiên ở thập niên 1990 như cá tai tượng (Osphronemus goramy), cá trê lai (Clarias sp) cá rô phi (Oreochrmis niliticus), cá chim trắng (Piaracus brachypomus),…Trong đó có 50 loài có giá trị kinh tế, 21 loài đang là đối tượng nuôi quan trọng như cá tra, cá chạch lấu, cá rô phi, cá chim trắng,…; Kết quả khảo sát cũng đã phát hiện 18 loài tôm phân bố ở thành phố Cần Thơ, thuộc 02 giống, 02 họ, 01 bộ. Trong tổng số 08 loài tôm phát hiện được có 04 loài là đối tượng khai thác quan trọng, có giá trị xuất khẩu và tiêu dùng nội địa như: Macrobrachium equidens (Dana, 1852), Macrobrachium mirabile (Kemp, 1917), Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879) và Metapenaeus lysianassa (De Man, 1888). Các loài còn lại có kích thước nhỏ, sản lượng ít, giá trị kinh tế thấp; đa số các loài đều phân bố nhiều ở các thủy vực Ruộng lúa, Kênh, Rạch và Sông cấp II. Thủy vực Sông cấp I do tốc độ dòng chảy lớn nên không phải là vùng phân bố tốt cho những loài có kích cỡ nhỏ, nên số lượng loài cá phân bố ở đây ít hơn so với các thủy vực khác. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự biến động về số lượng thành phần loài theo các loại hình thủy vực qua các đợt thu mẫu, nhưng mức độ biến động diễn ra không lớn trong suốt quá trình nghiên cứu; đa số các loài cá phân bố ở địa bàn thành phố Cần Thơ thành thục sinh dục vào mùa mưa từ thánh 5 đến tháng 11 dương lịch. Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối cua một số loài cá phân bố ở thành phố Cần Thơ có sự thay đổi theo trọng lượng thân của cá. Nhìn chung, đa số các loài cá đã nghiên cứu đều có mức sinh sản tương đối cao (trừ một số loài cá lăng (Hemibagrus wyckii), Cá chạch (Macrognathus siamensis), Cá dảnh (Puntioplitis proctozystron),…; so với kết quả nghiên cứu của Sở Khoa học Công nghệ & Môi trường Cần Thơ (1994 – 1996) cho thấy một số loài thủy sinh vật ngoại lai đã xuất hiện trong môi trường tự nhiên như cá lau kiếng (Pterygolichthys disjunctivus), cá chim trắng (Piaractus brachypomus),…; đã ước tính trự lượng một số loài cá, tôm bằng phương pháp tần suất xuất hiện, tỷ lệ xuất hiện, sinh lượng và đánh giá đường cong tăng trưởng cũng như tính các tỷ lệ chết…cho thấy  ước tính trữ lượng một số loài qua hình thức lưới kéo là khoảng 1.500 tấn; đã chạy điện di được 60 loài tôm, cá đã thu mẫu được, kết quả cho thấy sự khác nhau của DNA của các loài tôm, cá khác nhau, nhưng do kết quả chạy ddienj di các loài cá là lần đầu, nên sẽ là cơ sở tham khảo ban đầu cho các nghiên cứu tiếp theo về DNA của các loài thủy sản; đã xây dựng được bản đồ kỹ thuật số (GIS) cho các loài thủy sản ở thành phố Cần Thơ theo thời gian và không gian hiện diện của các loài này trong thủy vực ở địa bàn thành phố Cần Thơ làm cơ sở để cập nhật và quản lý NLTS lâu dài ở địa phương một cách liên tục.

 

Một số hình ảnh của buổi nghiệm thu:









 
Thúy Hằng
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Video  
 
 



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này