Sinh vật [ Đăng ngày (18/04/2026) ]
Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến tỉ lệ sống, độ béo và tỉ lệ thành thục trong nuôi vỗ trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa lamarck, 1819)
Nghiên cứu do nhóm tác giả Phùng Bảy - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, Khánh Hòa và Nguyễn Văn Minh, Ngô Anh Tuấn - Trường Đại học Nha Trang thực hiện nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến tỉ lệ sống, độ béo và tỉ lệ thành thục sinh dục trong nuôi vỗ trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa Lamarck, 1819).

Ảnh minh họa: Internet

Trai tai tượng vảy (Tridacna squamosaLamarck, 1819) là đối tượng có giá trị kinh tế cao nhưng nguồn lợi đang bị cạn kiệt nghiêm trọng. Trai tai tượng vảy được đưa vào Sách đỏ Việt Nam, dạng nguy cấp, cần được bảo vệ nghiêm ngặt (Sách đỏ Việt Nam, 2007). Vì phân bố của trai tai tượng gắn liền với rạn san hô, nên việc khai thác trai bừa bãi đã ảnh hưởng xấu đến sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái quan trọng đối với tự nhiên biển và con người (Đỗ Công Thung & Sarti, 2004).

Trước thực trạng đó,những giải pháp thiết thực nhằm để khôi phục và phát triển nguồn lợi quý hiếm này được ưu tiên hàng đầu. Song song với việc đề ra những cơ chế, chính sách nhằm khai thác hợp lí nguồn lợi trai tai tượng, thì việc nghiên cứu cơ sở khoa học sinh sản nhân tạo nhằm sản xuất cung cấp giống cho nuôi phục hồi, nuôi thương mại đối tượng này là yêu cầu cấp thiết. Điều này góp phần giảm áp lực khai thác, bổ sung, tái tạo nguồn lợi tự nhiên, mở ra một triển vọng mới cho nghề nuôi trai tai tượng và phục hồi nguồn lợi quý hiếm này.

Trong sản xuất giống nhân tạo bất kì đối tượng thủy sản nào, nuôi vỗ tạo đàn bố mẹ thành thục tốt đóng vai trò quan trọng. Vũ Trọng Đại (2022) kết luận rằng cường độ ánh sáng 500–3.000 lux thích hợp cho nuôi vỗ nghêu lụa. Trai tai tượng nói chung và trai tai tượng vảy nói riêng có phương thức sống cộng sinh với vi tảo quang hợp và chúng thu nhận dinh dưỡng thông qua quá trình cộng sinh (Fitt, 1988; Klumpp và Griffiths, 1994). Khi thí nghiệm nuôi vỗ thành thục sinh dục trai tai tượng lớn (Tridacna maxima) ở Úc, cường độ ánh sáng thích hợp là 4.000–5.000 lux và tác giả cho rằng có mối quan hệ thuận giữa thành thục sinh dục và chất lượng trứng và tinh trùng (Ellis, 1998). Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến tỉ lệ sống, độ béo và tỉ lệ thành thục trong nuôi vỗ trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa Lamarck, 1819) nhằm góp phần cung cấp thông tin hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo và phát triển sản xuất giống trai tai tượng vảy.

Trai tai tượng nói chung và trai tai tượng vảy nói riêng phân bố tự nhiên tại những vùng rạn san hô cạn, nơi có ánh sáng mặt trời chiếu tới. Vì chúng là những động vật thân mềm hai mảnh vỏ nên có khả năng dùng mang để lọc thức ăn nuôi cơ thể. Ngoài ra, trai tai tượng còn thu nhận dinh dưỡng từ các vi tảo cộng sinh (Symbiodinium sp.) sống trên mô màng áo của cơ thể trai (Fitt, 1988). Tảo cộng sinh trên màng áo của trai thực hiện chức năng quang hợp, tạo ra dưỡng chất cần thiết như đường, axit amin, axit béo, sau đó, một phần dinh dưỡng này sẽ được phóng trực tiếp vào mạch máu của trai tai tượng và phần còn lại được thoát ra qua màng tế bào của tảo trai hấp thu (Klumpp và cs., 1992).

Trong quá trình nuôi vỗ trai thành thục sinh dục, ngoài việc bổ sung nguồn vi tảo (tảo được nuôi cấy) và mùn bã hữu cơ (thông qua bơm nước tự nhiên không lọc) làm thức ăn thì người nuôi cũng phải bón thêm môi trường dinh dưỡng như đạm, lân (Heslinga và cs., 1990; Belda và cs., 1993; Fitt và cs., 1993) và bố trí chiếu sáng thích hợp để tảo cộng sinh quang hợp bổ sung dưỡng chất cho trai sinh trưởng và hình thành các sản phẩm sinh dục (Ellis, 1998). Cường độ ánh sáng phù hợp thì trai phát triển tốt và tỉ lệ thành thục cao, sản phẩm sinh dục đạt chất lượng. Ngược lại nếu ánh sáng không phù hợp thì trai không những không thành thục mà còn biểu hiện phai màng áo, thậm chí chết.

Nghiên cứu ghi nhận cường độ ánh sáng lớn hơn 6.000 lux thì dẫn tới hiện tượng phai màng áo đối với trai tai tượng vảy (Ellis, 1998). Cường độ ánh sáng yếu dẫn đến không đủ dưỡng chất do tảo quang hợp kém. Nếu ánh sáng quá mạnh dẫn đến nhiệt độ tăng, rong phát triển nhiều, tiêu hao oxygen, dẫn đến hàm lượng oxygen hòa tan trong nước giảm. Rong phát triển nhiều còn lấy đi một lượng dinh dưỡng trong nước, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình quang hợp của vi tảo cộng sinh (Braley, 1992).

Ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến khả năng thành thục sinh dục phụ thuộc vào đặc điểm phân bố của loài trai tai tượng. Khi thí nghiệm nuôi vỗ thành thục sinh dục trai tai tượng lớn (Tridacna maxima), một đối tượng phân bố ở vùng nước cạn, cường độ ánh sáng thích hợp là 4.000–5.000 lux (Ellis, 1998). Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, cường độ ánh sáng thích hợp cho nuôi vỗ là 2.000 lux, vì trai tai tượng vảy phân bố ở vùng nước sâu hơn, nơi có cường độ ánh sáng yếu hơn.
Sau 50 ngày thí nghiệm, tỉ lệ sống, độ béo và tỉ lệ thành thục ở nghiệm thức cường độ ánh sáng 2.000 lux là cao nhất, lần lượt là 63,50%, 19,25% và 52,75%. Cường độ ánh sáng 6.000 lux cho kết quả các chỉ tiêu phân tích là thấp nhất với tỉ lệ sống 59,25%, độ béo 15,25% và tỉ lệ thành thục 44,25%.

nnttien
Theo Tạp chí Khoa học Đại học Hạ Long Tập 18 (2025)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn


Video




© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này