Tự nhiên [ Đăng ngày (05/04/2026) ]
Tiềm năng giảm ô nhiễm trong nước thải đô thị của năm loài hoa kiểng trong điều kiện thí nghiệm
Nghiên cứu do các tác giả Võ Thị Phương Thảo và Ngô Thụy Diễm Trang – Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, Đại học Cần Thơ thực hiện nhằm nhằm bổ sung thêm thông tin về khả năng xử lý chất ô nhiễm trong nước thải của năm loài hoa kiểng này trong điều kiện thí nghiệm làm cơ sở cho việc lựa chọn loài hoa kiểng có tiềm năng trong ứng dụng và nhân rộng mô hình bè nổi trồng thực vật.

Thành phố Cần Thơ là thành phố lớn thứ tư và là thành phố lớn nhất dọc theo khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ở Việt Nam (Neumann et al., 2013), có tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt bật và tốc độ đô thị hóa gia tăng liên tục dẫn đến các vấn đề môi trường, trong đó, ô nhiễm nước mặt trong khu vực đô thị là một vấn đề nan giải (Tran et al., 2022). Hiện nay, hầu như tất cả các kênh mương cấp thoát nước chính trong địa bàn thành phố Cần Thơ (TPCT) đã và đang bị ô nhiễm ở mức báo động (Nguyen, 2020; Tran et al., 2022). Cụ thể, Tran et al. (2022) ghi nhận hàm lượng COD, N-NH4+ và PPO43- ở đoạn kênh Búng Xáng trung bình 41,83 - 56,07; 4,51 - 9,14 và 0,42 - 0,72 mg/L vượt 1,37 - 1,87; 5,01 - 10,16 và 1,4 - 2,4 lần so với QCVN 08MT:2015/BTNMT. Khuôn viên dọc kênh Búng Xáng được TPCT quy hoạch là phố ẩm thực với nhiều hàng quán. Vì vậy, để vừa cải thiện chất lượng môi trường nước cũng như vừa tạo vẽ mỹ quan đô thị cho đoạn kênh này cần có biện pháp xử lý như bè nổi thực vật, sử dụng các loài thực vật có hoa vừa góp phần cải thiện chất lượng nước kết hợp tạo cảnh quan đô thị để đảm bảo môi trường trong lành, hướng đến TPCT xanh và bền vững.

Các giải pháp xử lý nước dựa vào thiên nhiên (Nature-based solution), góp phần chuyển đổi và thay đổi phát triển đô thị bền vững trên thế giới. Đây là giải pháp giúp tiết kiệm chi phí, giảm lượng khí thải carbon, tăng khả năng phục hồi trước các sự kiện thời tiết khắc nghiệt, hỗ trợ bảo tồn đa dạng sinh học và môi trường sống, đồng thời cải thiện chất lượng nước (Ertel et al., 2019), và góp phần vào đạt được nhiều mục tiêu phát triển bền vững (Somarakis et al., 2019). Việc phát triển các khu đất ngập nước (ĐNN) ứng dụng thực vật xử lý nước với những loài cây thủy sinh như: bèo tai tượng, thủy trúc, lục bình (Nguyen et al., 2015),…và các loại cây trồng thủy sinh lưu niên, thân thảo, thân xốp, rễ chùm như: sậy, cói, cỏ đuôi mèo, rau mác, bèo tây,...(Pham et al., 2012). Các loài cây này đã được áp dụng và có khả năng làm sạch các chất ô nhiễm, loại bỏ các vi sinh vật gây bệnh, đồng thời làm tăng giá trị đa dạng sinh học, cải tạo cảnh quan môi trường hệ sinh thái. Hơn nữa, cây chuối hoa (Canna generalis), chuối mỏ két (Heliconia psittacorum) và bách thủy tiên (Echinodorus cordifolius) được ghi nhận là loài cây có tiềm năng trong xử lý nước thải sinh hoạt, đô thị và nước thải nuôi tôm, cá (Konnerup et al., 2008; Konnerup et al., 2011; Le & Nguyen, 2022; Nhan & Tuong, 2020; Dao et al., 2023; Tran et al., 2024). Bên cạnh khả năng xử lý nước thải, năm loài cây gồm chuối hoa, chuối mỏ két, chiều tím, thủy trúc và bách thủy tiên được chọn để nghiên cứu trong đề tài này do tính dễ tìm nguồn cây giống ngoài thực địa, có sinh khối cao và góp phần tạo cảnh quan với những sắc hoa rực rỡ. Riêng cây chiều tím là loài cây chưa được đánh giá trong các nghiên cứu xử lý nước thải. Hơn nữa, hiện tại việc thiết kế các bè nổi hay đất ngập nước nổi (Floating wetlands) với năm loài hoa kiểng có dạng sống thân lá vượt lên mặt nước (Emergent plants) có khả năng xử lý ô nhiễm nước thải và tạo cảnh quan đô thị chưa được nghiên cứu nhiều ở ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng làm giảm chất ô nhiễm của năm loài hoa kiểng gồm thủy trúc (Cyperus alternifolius), bách thủy tiên (Echinodorus cordifolius),chuối hoa (Canna generalis), chuối mỏ két (Heliconia psittacorum),chiều tím (Ruellia brittoniana) và không trồng cây (đối chứng). Cây được trồng trên bè nổi ở mật độ 27 cây/m2 để xử lý nước thải đô thị và được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Cây góp phần làm giảm đạm (N),lân (P), nhu cầu oxy hóa học (COD) và cải thiện điều kiện oxy (DO) trong nước sau 7 ngày xử lý, nhưng DO và COD vẫn chưa đạt QCVN 08:2023/BTNMT).

Qua thời gian thực hiện, kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ thống bè nổi thực vật góp phần giảm đạm, lân, COD và cải thiện điều kiện oxy trong nước sau 7 ngày xử lý. Tuy nhiên, hàm lượng DO và COD vẫn chưa đạt QCVN 08:2023/BTNMT. Cây tích lũy thêm 6,68 > 4,46 > 4,26 > 2,93 > 1,78 g N/bể (tương ứng chuối hoa > thủy trúc > bách thủy tiên > chiều tím > chuối mỏ két) và 0,21 > 0,20 > 0,18 > 0,10 > 0,07 g P/bể (tương ứng cây chuối hoa > chiều tím > thủy trúc > bách thủy tiên > chuối mỏ két). Trung bình 5 loài cây nghiên cứu đóng góp loại bỏ 7,0 - 11,8% đạm và 4,0 - 9,3% lân trong hệ thống xử lý. Chuối hoa và thủy trúc tăng trưởng và phát triển tốt giúp loại bỏ N, P trong hệ thống vì thế chúng là những loài tiềm năng và phù hợp nhất để trồng trên bè nổi giúp cải thiện chất lượng nước kết hợp tạo cảnh quan đô thị.

Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ. Tập 61, Số chuyên đề: Môi trường và Biến đổi khí hậu (2025) (nthang)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Xã hội-Nhân văn  
 
Bí quyết chinh phục nhà tuyển dụng trong thời đại 4.0 - kỹ năng mềm
Sự bùng nổ của công nghệ và mạng lưới kết nối toàn cầu đã mang đến nhiều cơ hội và thách thức mới. Để thành công trong môi trường làm việc hiện đại, bên cạnh kiến thức chuyên môn, mỗi người học cần trang bị cho mình những kỹ năng mềm quan trọng.


 



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này