Ảnh minh họa
Nhiều nghiên cứu đã hướng đến việc đánh giá hoạt tính kìm khuẩn và diệt khuẩn của thảo dược nhằm thay thế dần kháng sinh trong điều trị bệnh cho động vật thủy sản (Tráng và ctv., 2018; Huyền và ctv., 2018; Hoa và ctv., 2020; Huyền và ctv., 2020; Linh & Huyền, 2023). Trong đó, EMS (AHPND) là một trong những bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng ở tôm giai đoạn khoảng 1 tháng tuổi, liên quan đến Vibrio parahaemolyticus mang plasmid có gen độc lực mạnh (Tran et al., 2014a, 2014b; Kondo et al., 2014; Han et al., 2015).
Các thảo dược đã được chứng minh bước đầu trong điều kiện phòng thí nghiệm có khả năng ức chế và diệt khuẩn đối với nhiều chủng vi khuẩn gây bệnh, thông qua nhiều nhóm nguyên liệu như hạt trâm bầu, diệp hạ châu, lựu và thầu dầu (Huyền và ctv., 2018; Hoa và ctv., 2020; Huyền và ctv., 2020; Yến và ctv., 2021; Linh & Huyền, 2023). Khi phân tích các bộ phận của nhiều loài cây (rễ, thân, lá, quả), nhiều hợp chất sinh học như alkaloid, flavonoid, saponin, tannin, steroid và terpenoid thường được ghi nhận; các nhóm chất này gắn với hoạt tính kháng khuẩn, kháng oxy hóa và khả năng loại bỏ gốc tự do (Hai & Yakupitiyage, 2005; Supono et al., 2019; Vittaya et al., 2022). Trên cơ sở đó, các nguồn thảo dược được xem là hướng tiếp cận phù hợp để kiểm soát vi khuẩn gây bệnh thủy sản, góp phần giảm áp lực phải sử dụng kháng sinh.
Trong bối cảnh nguyên liệu thu tỉa đước—bao gồm nhiều bộ phận như rễ, lá và trái—thường chỉ được tận dụng làm nhiên liệu đốt hoặc than củi với giá trị thấp và chưa tối ưu hóa, việc nghiên cứu khả năng ứng dụng các dịch chiết đước trong kiểm soát mầm bệnh thủy sản mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Đặc biệt, tại các tỉnh ven biển như Cà Mau, rừng ngập mặn là nền tảng cho mô hình nuôi tôm sinh thái và còn liên quan đến định hướng “net zero” đến năm 2050 thông qua các chính sách, định hướng phát triển thị trường carbon xanh (Vu et al., 2023), trong đó rừng ngập mặn đóng vai trò đáng kể (Phong & Nuong, 2023). Vì tôm dễ chịu tác động bởi nhiều tác nhân gây bệnh, nghiên cứu tập trung vào việc xác định hiệu quả kháng khuẩn của dịch chiết cây đước đối với nhóm vi khuẩn gây bệnh trên động vật thủy sản và tối ưu quy trình trích ly theo phương pháp trích, tỉ lệ nguyên liệu với nước cất hoặc dung môi, nhằm xác định ngưỡng ức chế/diệt khuẩn phù hợp. Với Vibrio parahaemolyticus, đánh giá bằng khuếch tán trên đĩa thạch cho thấy dịch chiết nước cất (98°C, 3 giờ) cho hiệu lực kháng khuẩn mạnh hơn so với dịch chiết bằng cồn; theo phân loại vòng kháng khuẩn, hiệu lực yếu ghi nhận ở trái (3,7–4,3 mm), hiệu lực trung bình ở lá (2,8–7,8 mm) và hiệu lực mạnh ở trái (6,0–10,5 mm). Dịch chiết cồn 50°, 70° và 90° từ rễ cho vòng kháng khuẩn lần lượt 4,3; 4,0 và 3,7 mm, không có khác biệt đáng kể giữa các nồng độ cồn; trong khi dịch chiết từ lá và trái không thể hiện tính kháng khuẩn. Ở các tỉ lệ bột rễ đước : nước cất là 1/7, 1/5 và 1/3 đều cho kết quả. |