Ảnh minh họa
Trước bối cảnh hạn chế về sử dụng hóa chất/kháng sinh do tồn dư trong môi trường và tác động lên hệ sinh thái, nhiều nghiên cứu đang hướng tới việc bổ sung thảo dược hoặc chế phẩm có hoạt tính sinh học để tăng cường miễn dịch và hỗ trợ kiểm soát tác nhân gây bệnh trong nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá tra nói riêng.
Trong nhóm thảo dược, cây dây gắm (Gnetum montanum) được đặc biệt quan tâm do các bằng chứng trong y học dân gian và nghiên cứu gần đây cho thấy khả năng kháng khuẩn, kháng viêm và chống oxy hóa. Dù các hoạt tính này hứa hẹn tiềm năng ứng dụng trong phòng bệnh thủy sản, thảo dược nói chung và dược liệu từ các loài thực vật cũng có thể mang độc tính ở những ngưỡng nhất định. Các số liệu đã ghi nhận cho thấy dây gắm có thể gây ức chế/độc tính trên mô hình tế bào, nhưng hiện vẫn còn thiếu nghiên cứu đánh giá độc tính của cao chiết dây gắm trên động vật thủy sản. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định nồng độ (LC50) hoặc liều (LD50) gây chết 50% và thiết lập ngưỡng an toàn khi sử dụng dịch chiết trên cá tra giống bằng hai phương pháp ngâm và cho uống.
Thí nghiệm cho thấy dịch chiết dây gắm có khả năng gây độc trên cá tra giống. Cá có khối lượng khoảng 10 g được ngâm trong nước pha dịch chiết với các nồng độ 800, 1.000, 1.200, 1.400 và 1.600 mg/L, hoặc uống cưỡng bức với các liều 350, 450, 550, 650 và 750 mg/kg; tỷ lệ chết được ghi nhận sau 12, 24, 48, 72 và 96 giờ. Kết quả tính toán cho thấy LC50 lần lượt sau 24, 48 và 72/96 giờ là 1.114,81; 1.100,56 và 1.046,62 mg/L; LD50 lần lượt sau 48 giờ và 72/96 giờ là 562,83 mg/kg và 518,23 mg/kg. Từ các giá trị này, nồng độ an toàn ước tính thấp hơn 111,48 mg/L (24h), 110,06 mg/L (48h) và 104,66 mg/L (72/96h); tương ứng liều an toàn thấp hơn 56,28 mg/kg cá (48h) và 51,82 mg/kg cá (72/96h). Cá trúng độc thể hiện thay đổi rõ về hình thái và màu sắc các cơ quan nội tạng như túi mật, gan, lách, thận và tim, kèm hiện tượng sung huyết, đổi màu và biến dạng—gợi ý tác động tiêu cực đến chức năng sinh lý cơ thể. |