Ảnh minh họa: Internet
Ở nước ta, các cá thể Voi thuộc loài Voi châu Á (Elephas maximus Linnaeus, 1758). Hiện nay, loài này được phân hạng ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị Định 64/2019/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam và thuộc nhóm IB trong Nghị Định 06/2019/NĐ-CP. Theo các điều tra khảo sát gần đây cho thấy, trên phạm vi toàn quốc hiện chỉ còn khoảng 10 khu vực được xác định là có Voi sinh sống với số lượng ước tính khoảng 70-130 cá thể, một số đàn bị xé nhỏ trung bình khoảng 4-6 cá thể phân bố chủ yếu dọc biên giới Việt - Lào và Cam-pu-chia, bao gồm các tỉnh: Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, các tỉnh Tây nguyên, Bình Phước và Đồng Nai. Số lượng cá thể và quy mô đàn lớn nhất chủ yếu tập trung tại 3 khu rừng đặc dụng là: Vườn quốc gia Pù Mát (tỉnh Nghệ An), Vườn quốc gia Yok Don (tỉnh Đắk Lắk),Vườn quốc gia Cát Tiên và Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai (tỉnh Đồng Nai). Cho đến nay, các nghiên cứu về bảo tồn Voi ở nước ta chủ yếu tập trung vào nghiên cứu hiện trạng, vùng phân bố, sinh cảnh sống, cấu trúc đàn, tập tính hoạt động, xung đột giữa Voi và con người.... Tuy nhiên, lại có rất ít các nghiên cứu về thành phần các loài cây làm thức ăn cho Voi. Tại Quảng Nam, kết quả nghiên cứu gần đây đã công bố một số kết quả ghi nhận ban đầu về tình trạng quần thể Voi châu Á (Elephas maximus) tại Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Voi Quảng Nam (huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam), đã ghi nhận 01 đàn với số lượng là 08 cá thể. Tuy nhiên, theo các thông tin được Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Quảng Nam và người dân cung cấp, có một đàn Voi sống biệt lập tại khu rừng thuộc huyện Bắc Trà My và huyện Hiệp Đức, chúng ở ngoài Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Voi tỉnh Quảng Nam, chưa có thông tin chính xác về hiện trạng số lượng cá thể và cấu trúc đàn. Trong khuôn khổ thỏa thuận hợp tác về Khoa học - Công nghệ giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam, chúng tôi thực hiện điều tra, phân tích đánh giá sinh cảnh sống, nguồn thức ăn của đàn Voi tại huyện Bắc Trà My và huyện Hiệp Đức góp phần cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo tồn đàn Voi tại đây.
Khu vực hoạt động của Voi chủ yếu tại rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp, rừng hỗn giao tre nứa và cây lá rộng, trảng cây bụi tái sinh sau nương rẫy, trảng cỏ sau nương rẫy và rừng trồng ở khu vực rừng giáp ranh giữa các xã: Trà Đốc (huyện Bắc Trà My), Phước Trà, Phước Gia và Quế Lưu (huyện Hiệp Đức). Hiện nay, sinh cảnh rừng tự nhiên bị suy giảm và tác động mạnh, ảnh hưởng đến hoạt động của Voi. Trong khu vực nghiên cứu có 45 loài thực vật làm thức ăn cho Voi, thuộc 25 họ. Tuy nhiên, Voi sử dụng 10 loài phổ biến là: Giang, Búng Báng, Móc, Lá dong, Đùng đình, Song voi, Chè vè, Cỏ chít, Nứa, Chuối rừng. Với diện tích và các kiểu sinh cảnh trong khu vực, lượng thức ăn có khả năng cung cấp đủ thức ăn cho 2 cá thể Voi còn lại trong khu vực nghiên cứu. Tuy nhiên, nguồn thức ăn sẽ khan hiếm hơn vào mùa khô khi các loài măng, các loài cây thân thảo bị suy giảm, Voi sẽ có khả năng tìm về khu vực canh tác nông nghiệp của dân. |