Truyền thông [ Đăng ngày (04/10/2022) ]
Năm học giả Việt trong danh sách 1.000 nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới về Cơ khí - Kỹ thuật Hàng không vũ trụ
Trong số đó, có 2 nhà nghiên cứu trong nước và 3 nhà nghiên cứu ở nước ngoài.

Xếp hạng trên research.com | Ảnh chụp màn hình

Bảng xếp hạng dựa vào danh sách 3.637 nhà khoa học có công bố thuộc lĩnh vực này từ cơ sở dữ liệu của Google Scholar và Microsoft Academic Graph. Các tiêu chí lựa chọn bao gồm chỉ số H-Index (tối thiểu 30), tỷ lệ đóng góp trong ngành, giải thưởng và thành tựu của các nhà khoa học. Số liệu thu thập được tính từ năm 2014 đến hết ngày 6/12/2021.

Trong đó, GS. TS Nguyễn Xuân Hùng (H-Index 80) đứng thứ 42 thế giới, hiện là Viện trưởng Viện Công nghệ liên ngành CIRTech thuộc trường Đại học Công nghệ TP.HCM, và là Chủ tịch Hội Cơ học Tính toán của Việt Nam. Ông được bổ nhiệm làm giáo sư thỉnh giảng của Đại học Y Trung Quốc (Đài Loan) và Đại học Sejong (Hàn Quốc) từ năm 2015, và là thành viên ban biên tập của một số tạp chí quốc tế nổi bật như Composite Structures, Underground Space, Computers, Materials & Continua, Biomedicine, Vietnam Journal of Mechanics… Các nghiên cứu của ông tập trung vào phát triển các công cụ tính toán mô phỏng số trên máy tính ứng dụng cho cơ kỹ thuật, cơ sinh học, vật liệu tiên tiến, in 3D...

PGS. TS Nguyễn Thời Trung (H-Index 62) ở vị trí 143, hiện là Viện trưởng Viện Khoa học tính toán của trường Đại học Tôn Đức Thắng. Trước đó, ông từng giảng dạy bộ môn toán cơ tại Khoa Toán tin, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM. Ông tham gia ban biên tập của một số tạp chí quốc tế như Journal of Advanced Engineering and Computation của Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Journal of Computational Applied Mechanics của Đại học Tehran... Các nghiên cứu của ông tập trung vào phát triển phương pháp phần tử hữu hạn trơn S-FEM, tối ưu hoá kết cấu, chẩn đoán hư hỏng kết cấu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích kết cấu.

GS. TS Phan Thiện Nhân (H-Index 55) đứng thứ 261, hiện là Giáo sư kỹ thuật cơ khí tại Đại học quốc gia Singapore, giáo sư danh dự tại Trường Kỹ thuật hàng không vũ trụ của Đại học Sydney (Úc) và Đại học Chiết Giang (Trung Quốc). Ông là biên tập viên, thành viên ban biên tập của một số tạp chí quốc tế uy tín như Physics of Fluids, Journal of Non-Newtonian Fluid Mechanics, AIP Advances. Lĩnh vực nghiên cứu của ông tập trung vào cơ học chất lưu, tương tác thủy động lực học, lưu biến (rheology) của chất lỏng cao phân tử và các mô hình tính toán liên quan đến chất lỏng có cấu trúc hạt phức tạp. Đóng góp lớn nhất của ông cho lĩnh vực lưu biến học là mô hình mang tên ông (Phan-Thien-Tanner modeling) và các biến thể của nó.

PGS. TS Bùi Quốc Tính (H-Index 53) ở vị trí 303, hiện là giảng viên tại Khoa Kỹ thuật Xây dựng và Môi trường, Đại học Công nghệ Tokyo (Nhật Bản), và từng nhận Giải thưởng Nhà khoa học trẻ của Hiệp hội Cơ học tính toán Nhật Bản năm 2018. Ông là biên tập viên của một số tạp chí nổi bật như Applied Mathematical Modelling, Thin-Walled Structures, Engineering Analysis with Boundary Elements, Scientific Reports. Các nghiên cứu của ông liên quan đến cơ học tính toán, cơ học về hư hỏng và nứt gãy, phân tích phần tử hữu hạn, vật liệu không ổn định, vật liệu chức năng thông minh,...

PGS. TS. Võ Thục Phúc (H-Index 41) ở vị trí 564, hiện là Giáo sư Kỹ thuật kết cấu tại Đại học La Trobe (Úc). Ông từng là giảng viên tại Đại học Northumbria và Trung tâm đào tạo và phát triển vật liệu composite tiên tiến của Airbus ở Anh quốc. Các nghiên cứu của ông tập trung vào lý thuyết biến dạng cắt (shear deformation theories) nhằm xem xét các phản ứng của cấu trúc composite, động lực học kết cấu, và ứng dụng học máy cho kỹ thuật kết cấu.

Ngô Hà (Tổng hợp)
Theo khoahocphattrien.vn (nthang)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Xem nhiều

Tiêu điểm

Chuyển đổi số tại Cần Thơ: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp
Nỗ lực hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, đảm bảo kết nối thông suốt
Tập trung cao độ cho phát triển kinh tế - xã hội thành phố
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại
Lãnh đạo UBND thành phố Cần Thơ làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ về tình hình hoạt động sau khi hợp nhất ba địa phương
Hội đồng tư vấn, giao trực tiếp tổ chức chủ trì nhiệm vụ KH&CN (Tư vấn và chứng nhận Tiêu chuẩn ISO 9001:2015 – Hệ thống quản lý chất lượng - Các yêu cầu và Tiêu chuẩn ISO 14001:2015 – Hệ thống quản lý môi trường) thuộc Chương trình NSCL năm 2025
Microsoft cáo buộc nhóm tin tặc đứng sau mạng lưới Deepfake AI
Công nghệ lưu trữ lượng tử vừa đạt đột phá: Chứa 5.000 phim 4K trên một tinh thể bé hơn đầu ngón tay?
Sony tuyên bố hợp tác gây chấn động ngành game, mang tính năng độc quyền trên AMD RX 9000 đến PS5 Pro, vạch ra tương lai cho PS6
Startup xe điện Dat Bike đã không còn "trong tay” người Việt
Trung Quốc tự đẩy mình vào 'thời khắc sinh tử': 300 startup xe điện chỉ còn 7 hãng lớn có thể tồn tại, chiến trường xe điện khốc liệt hơn bất kỳ lúc nào
Chuyên gia Phạm Chi Lan chỉ ra 4 điểm yếu của các nhà sáng lập Việt: Nhiều startup cho rằng xuất khẩu được mới 'oai', trong khi thị trường nội còn khó hơn ngoại
Startup KAMEREO ‘ấm bụng’ trong ‘mùa đông gọi vốn’: Hoàn tất vòng Series B với 7,8 triệu USD từ 5 ‘đồng hương’ Nhật Bản
Founder - CEO Amslink: Kiến tạo tương lai Anh ngữ cho thế hệ trẻ Việt
CASTI Awards 2024 - Tôn vinh sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Siêu thị số  
 
Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.


 
Công nghệ 4.0  
 
Một tầm nhìn do cộng đồng đề xuất về nguồn tri thức mới cho trí tuệ nhân tạo
Nghiên cứu do nhóm các tác giả Vinay K Chaudhri, Chaitan Baru, Brandon Bennett, Mehul Bhatt, Darion Cassel, Anthony G Cohn, Rina Dechter, Esra Erdem, Dave Ferrucci, Ken Forbus, Gregory Gelfond, Michael Genesereth, Andrew S. Gordon, Benjamin Grosof, Gopal Gupta, Jim Hendler, Sharat Israni, Tyler R. Josephson, Patrick Kyllonen, Yuliya Lierler, Vladimir Lifschitz, Clifton McFate, Hande Küçük McGinty, Leora Morgenstern, Alessandro Oltramari, Praveen Paritosh, Dan Roth, Blake Shepard, Cogan Shimizu, Denny Vrandečić, Mark Whiting, Michael Witbrock thuộc Công ty TNHH Nghiên cứu Hệ thống Tri thức, Sunnyvale, Hoa Kỳ thực hiện.


 
Điện tử  
 
Simbe Tally đạt chứng nhận UL 3300 – Bước tiến lớn cho robot quét kệ trong bán lẻ
Simbe vừa công bố rằng robot quét kệ tự động Tally đã chính thức đạt chứng nhận UL 3300 từ UL Solutions sau khi trải qua quá trình kiểm định độc lập cả robot và trạm sạc. Đây là một cột mốc quan trọng, bởi UL 3300 đặt ra những yêu cầu khắt khe về cơ khí, điện và phần mềm cho các hệ thống robot hoạt động trong môi trường công cộng năng động.


 
Tin học  
 
Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.


 



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này