Thông tin [ Đăng ngày (23/11/2021) ]
Ứng dụng blockchain trong doanh nghiệp: Walmart đã giảm thời gian truy xuất nguồn gốc sản phẩm từ 7 ngày xuống chỉ còn 2,2 giây như thế nào?
Công nghệ blockchain xuất hiện đã mở ra một xu hướng mới cho các lĩnh vực như: tài chính ngân hàng, logistics, điện tử viễn thông, kế toán kiểm toán, âm nhạc điện ảnh... Vậy nó đã được ứng dụng cụ thể như thế nào? Câu trả lời sẽ hiện rõ trong case study Walmart dùng công nghệ blockchain IBM Trust Food để quản lý chất lượng thực phẩm tươi sống của mình.

Theo báo cáo mới nhất của McKinsey vào ngày 6/11/2021. Trong thập kỷ tới, chúng ta sẽ trải qua nhiều tiến bộ hơn so với 100 năm qua cộng lại, khi công nghệ định hình lại vấn đề sức khỏe, khoa học vật liệu, năng lượng, giao thông vận tải và một loạt các ngành và lĩnh vực khác như tự động hóa, công nghiệp, di động, công nghệ thông tin và truyền thông.

Gần như công nghệ tác động đến mọi mặt của cuộc sống con người mà chúng ta không thể cưỡng lại được.

Chia sẻ trong Talkshow online với chủ đề "Ứng dụng blockchain trong doanh nghiệp thời bình thường mới", chị Lynn Hoàng - SEA Director của Binance, cho rằng: "Internet của tương lai là Internet of Value (Internet tạo ra giá trị) chứ không phải là Internet of Information (Internet của thông tin).

Trong đó blockchain sẽ là một công nghệ nền tảng để tạo giá trị trên thế giới số, blockchain (công nghệ chuỗi khối) sẽ tác động mạnh mẽ đến kinh doanh và xã hội bằng cách cung cấp một cách an toàn và trực tiếp, giúp cho việc trao đổi tiền, tài sản trí tuệ và các tài sản hữu hình khác mà có thể không cần sự tham gia của một bên thứ ba, làm cho môi trường số minh bạch hơn, giảm chi phí trung gian".


Chị Lynn Hoàng - SEA Director của Binance

Tiếp lời, anh Charlie Nguyễn – Chủ tịch FAM Central, cũng chia sẻ: "Blockchain có thể ứng dụng được vào rất nhiều ngành nghề khác nhau, tuy nhiên đối với lĩnh vực nghệ thuật mà anh đang làm thì nhà sản xuất hay nhà làm phim có thể ứng dụng blockchain để kết nối với cộng đồng người hâm mộ của mình. Sự kết nối này sẽ tạo ra rất nhiều sự tương tác và nó sẽ cộng đồng hóa việc sản xuất một bộ phim hay một tác phẩm nghệ thuật.

Nếu như trước đây, khi làm phim theo mô hình truyền thống thì chỉ có vài người suy nghĩ ra một câu chuyện nào đó, tiếp đến sẽ chỉ có một hay hai người viết ra câu chuyện đó, sau đó mới được chuyển giao qua khâu sản xuất….

Có thể thấy, tất thảy quá trình này, người làm phim được ví như làm việc trong bóng tối, họ sẽ đoán xem khán giả của mình cần gì, thị hiếu và nhu cầu của khán giả như thế nào chứ không thể nào biết được một cách chính xác. Chỉ khi bộ phim được công chiếu thì đạo diễn, nhà sản xuất mới có thể biết được tác phẩm của mình có đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của khán giả hay không".

Nhận thấy được vấn đề này, Fam Central mong muốn dùng một cách nào đó để có thể kết nối được với khán giả trước khi bộ phim được sản xuất. Và blockchain đã giải quyết được vấn đề đó, không chỉ giúp nhà sản xuất nhận được sự tương tác và đồng hành của người hâm mộ, blockchain còn giúp những người hâm mộ có thể trở thành các nhà đầu tư cho bộ phim mà mình yêu thích.


Anh Charlie Nguyễn – Chủ tịch FAM Central

Ngoài ra, blockchain là một công nghệ mới và tính ứng dụng rộng. Một ví dụ ứng dụng công nghệ blockchain trong ngành công nghiệp sản xuất – Walmart với công nghệ blockchain IBM Trust Food.

Cụ thể: Người tiêu dùng có thể bị nhiễm bệnh do ăn phải rau bị ô nhiễm hoặc các sản phẩm không đảm bảo. Khi điều này xảy ra, các chuỗi cửa hàng tạp hóa và các nhà bán lẻ thường sẽ phải dọn sạch các kệ sản phẩm nhằm ngăn những người tiêu dùng tiếp theo mua sản phẩm đó.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Walmart đã dẫn đầu trong việc tiếp cận và xử lý vấn đề này. Vào năm 2018, sau một chương trình thử nghiệm kéo dài hai năm, Walmart đã thông báo triển khai công nghệ blockchain, nhằm theo dõi sản phẩm, cụ thể là sản phẩm rau chân vịt và rau diếp cải. Sau thông báo, Walmart đã yêu cầu hơn 100 trang trại đối tác nhập thông tin chi tiết về thực phẩm của họ vào cơ sở dữ liệu blockchain.

Trước khi được nhập thông tin đến điểm cuối cùng là Walmart, tại mỗi điểm dừng ở chuỗi cung ứng, những người xử lý sản phẩm cho Walmart sẽ thực hiện một mục nhập trên blockchain, ký tên xác nhận và chuyển nó cho người xử lý tiếp theo trong chuỗi sản xuất.

Thông qua công nghệ Blockchain, ‘ông lớn’ trong mảng bán lẻ này có thể theo dõi thực phẩm từ cánh đồng trồng rau, qua các cơ sở rửa và cắt, đến kho và cuối cùng đến cửa hàng. Công nghệ thậm chí còn cho phép nhà sản xuất xác định khu vực nào của cánh đồng có thể thu hoạch được rau. Đánh giá tính hiệu quả, nhóm nghiên cứu tại Walmart tuyên bố rằng bằng cách sử dụng hệ thống mới này, thời gian cần thiết để truy xuất xứ nguồn gốc của công ty đã giảm từ 7 ngày xuống chỉ còn 2,2 giây.

Việc sử dụng Blockchain đáp ứng hai mục tiêu lớn được đề đặt ra bởi Walmart: Thứ nhất là tập trung vào thực phẩm tươi sống, và thứ hai là tiết kiệm chi phí. Trong tương lai, khi người tiêu dùng vô tình mắc bệnh do thực phẩm gây ra, nhà bán lẻ có thể nhanh chóng xác định và loại bỏ thực phẩm thực sự có nguy cơ, thay vì loại bỏ toàn bộ sản phẩm trên kệ.

Thấy được những lợi ích tiềm năng đem lại, Walmart không phải là nhà bán lẻ duy nhất đang triển khai công nghệ blockchain nhằm theo dõi và truy tìm sản phẩm của họ cũng như các sản phẩm liên quan đến thực phẩm khác. Hệ thống mà Walmart sử dụng – IBM Food Trust – đã được phát triển cho các công ty tiêu dùng, bao gồm Dole, Wegmans và Unilever để theo dõi các sản phẩm di chuyển qua chuỗi cung ứng.

Ánh Tuyết
Theo cafebiz.vn (ttmphuong)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Xem nhiều

Tiêu điểm

Chuyển đổi số tại Cần Thơ: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp
Nỗ lực hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, đảm bảo kết nối thông suốt
Tập trung cao độ cho phát triển kinh tế - xã hội thành phố
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại
Lãnh đạo UBND thành phố Cần Thơ làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ về tình hình hoạt động sau khi hợp nhất ba địa phương
Hội đồng tư vấn, giao trực tiếp tổ chức chủ trì nhiệm vụ KH&CN (Tư vấn và chứng nhận Tiêu chuẩn ISO 9001:2015 – Hệ thống quản lý chất lượng - Các yêu cầu và Tiêu chuẩn ISO 14001:2015 – Hệ thống quản lý môi trường) thuộc Chương trình NSCL năm 2025
Microsoft cáo buộc nhóm tin tặc đứng sau mạng lưới Deepfake AI
Công nghệ lưu trữ lượng tử vừa đạt đột phá: Chứa 5.000 phim 4K trên một tinh thể bé hơn đầu ngón tay?
Sony tuyên bố hợp tác gây chấn động ngành game, mang tính năng độc quyền trên AMD RX 9000 đến PS5 Pro, vạch ra tương lai cho PS6
Startup xe điện Dat Bike đã không còn "trong tay” người Việt
Trung Quốc tự đẩy mình vào 'thời khắc sinh tử': 300 startup xe điện chỉ còn 7 hãng lớn có thể tồn tại, chiến trường xe điện khốc liệt hơn bất kỳ lúc nào
Chuyên gia Phạm Chi Lan chỉ ra 4 điểm yếu của các nhà sáng lập Việt: Nhiều startup cho rằng xuất khẩu được mới 'oai', trong khi thị trường nội còn khó hơn ngoại
Startup KAMEREO ‘ấm bụng’ trong ‘mùa đông gọi vốn’: Hoàn tất vòng Series B với 7,8 triệu USD từ 5 ‘đồng hương’ Nhật Bản
Founder - CEO Amslink: Kiến tạo tương lai Anh ngữ cho thế hệ trẻ Việt
CASTI Awards 2024 - Tôn vinh sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Siêu thị số  
 
Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.


 
Công nghệ 4.0  
 
Một tầm nhìn do cộng đồng đề xuất về nguồn tri thức mới cho trí tuệ nhân tạo
Nghiên cứu do nhóm các tác giả Vinay K Chaudhri, Chaitan Baru, Brandon Bennett, Mehul Bhatt, Darion Cassel, Anthony G Cohn, Rina Dechter, Esra Erdem, Dave Ferrucci, Ken Forbus, Gregory Gelfond, Michael Genesereth, Andrew S. Gordon, Benjamin Grosof, Gopal Gupta, Jim Hendler, Sharat Israni, Tyler R. Josephson, Patrick Kyllonen, Yuliya Lierler, Vladimir Lifschitz, Clifton McFate, Hande Küçük McGinty, Leora Morgenstern, Alessandro Oltramari, Praveen Paritosh, Dan Roth, Blake Shepard, Cogan Shimizu, Denny Vrandečić, Mark Whiting, Michael Witbrock thuộc Công ty TNHH Nghiên cứu Hệ thống Tri thức, Sunnyvale, Hoa Kỳ thực hiện.


 
Điện tử  
 
Simbe Tally đạt chứng nhận UL 3300 – Bước tiến lớn cho robot quét kệ trong bán lẻ
Simbe vừa công bố rằng robot quét kệ tự động Tally đã chính thức đạt chứng nhận UL 3300 từ UL Solutions sau khi trải qua quá trình kiểm định độc lập cả robot và trạm sạc. Đây là một cột mốc quan trọng, bởi UL 3300 đặt ra những yêu cầu khắt khe về cơ khí, điện và phần mềm cho các hệ thống robot hoạt động trong môi trường công cộng năng động.


 
Tin học  
 
Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.


 



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này