Trí tuệ nhân tạo [ Đăng ngày (13/10/2021) ]
Làm sao để AI trở nên "xanh" hơn?
Trí tuệ nhân tạo (AI) là một công cụ mạnh mẽ để chống lại biến đổi khí hậu, đồng thời là một nguồn đóng góp phát thải không thể bỏ qua. Vậy làm sao để công nghệ này trở nên xanh hơn và đóng góp tốt hơn cho Trái đất?


Ảnh minh họa: Getty Images

AI đang góp phần cải thiện mối quan hệ giữa con người với môi trường. Nghiên cứu công bố trên tạp chí Nature Communication vào năm ngoái cho thấy AI có thể giúp đạt được 93% các chỉ tiêu môi trường trong danh sách 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG) của Liên Hợp Quốc đến năm 2030, thông qua việc tạo ra thành phố thông minh phát thải carbon thấp, kiểm soát các thiết bị IoT tự điều chỉnh điện năng tiêu thụ, tích hợp năng lượng tái tạo vào lưới điện thông minh, xác định các xu hướng sa mạc hóa bằng ảnh vệ tinh, và chống lại ô nhiễm biển.

Ứng dụng AI trong công nghiệp cũng giúp cải thiện môi trường và giảm phát thải. Ví dụ, OYAK Cimento, một tập đoàn sản xuất xi măng có trụ sở tại Thổ Nhĩ Kỳ, đang sử dụng AI để loại bỏ đáng kể lượng khí thải carbon.

Berkan Fidan, Giám đốc hiệu suất và quy trình của công ty, cho biết, với một nhà máy xi măng tầm trung sản xuất khoảng 1 triệu tấn xi măng mỗi năm, chỉ cần giảm khoảng 1% clinker nhờ ứng dụng AI trong quy trình sản xuất và kiểm soát chất lượng thì đã giảm được khoảng 7.000 tấn CO2 mỗi năm. "Điều này tương đương với 320.000 cây hấp thụ CO2 trong một năm,” ông so sánh.

Theo viện nghiên cứu tư vấn Chatham House, ngành xi măng chiếm khoảng 8% lượng khí thải CO2 toàn cầu. Do đó, nhu cầu cải thiện hiệu quả sản xuất xi măng là cực kì rõ ràng và AI chính là một công cụ.

Một ví dụ khác về AI có tác động tích cực đến môi trường, đó là trường hợp Entel, công ty viễn thông lớn nhất Chile, sử dụng dữ liệu cảm biến để xác định các vụ cháy rừng.

Chile bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu nghiêm trọng và có điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Vụ cháy rừng tồi tệ nhất trong lịch sử nước này xảy ra vào năm 2017, làm mất đi gần 0,3 triệu ha rừng. Đối với một đất nước đầy kì quan thiên nhiên và phần lớn dân số và nền kinh tế phụ thuộc vào rừng để phát triển, bất kì loại cháy rừng nào cũng là thảm kịch.

Entel Ocean, nhóm kĩ thuật số của Entel, đã sử dụng các cảm biến IoT để xác định sớm các đám cháy. Những cảm biến này hoạt động như một "chiếc mũi" kỹ thuật số đặt ở trên cây, nhằm phát hiện các hạt bụi (PM) trong không khí. Dữ liệu từ cảm biến cho phép Entel Ocean sử dụng AI để tự động dự đoán khi nào đám cháy sẽ bùng phát.

"Chúng tôi đã phát hiện một đám cháy rừng sớm 12 phút so với các phương pháp truyền thống”, đại diện của Entel Ocean cho biết. “Đây là điều cực kì quan trọng khi nói đến việc ngăn chặn hỏa hoạn. Vì lửa có thể lan rộng chỉ trong vòng vài giây, nên từng phút đều hữu ích.”

Sự đánh đổi

Có thể nói, AI là một công cụ mạnh mẽ để chống lại biến đổi khí hậu. Nhưng việc nó đóng góp phát thải cũng không thể bỏ qua.

Năm 2020, các nhà khoa học ước tính, để đào tạo GPT-3, mô hình ngôn ngữ lớn nhất thế giới hiện nay, người ta đã sử dụng lượng năng lượng phát thải carbon tương đương với việc lái một chiếc xe ô tô từ Trái đất lên Mặt trăng và quay trở lại.

Vậy làm thế nào để giảm phát thải của AI khiến chúng trở nên "xanh hơn"?

Cho đến nay, trọng tâm của các nghiên cứu và đổi mới sáng tạo là cải thiện độ chính xác hoặc tạo ra các thuật toán mới. Những mục tiêu này thường phải tiêu thụ lượng dữ liệu ngày càng lớn và tạo ra các mô hình ngày càng phức tạp. Chẳng hạn, trong học sâu (deep learning), các tài nguyên tính toán đã tăng 300.000 lần trong giai đoạn năm 2012-2018.

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa độ chính xác của mô hình và độ phức tạp của thuật toán là một hàm logarit. Nghĩa là khi kích thước mô hình và yêu cầu đào tạo tăng theo cấp số nhân thì những cải thiện về mặt hiệu suất chỉ tăng theo đường tuyến tính. Nếu theo đuổi độ chính xác, chúng ta sẽ ít ưu tiên hơn cho việc phát triển những phương pháp đào tạo tốn ít thời gian hơn hoặc tiết kiệm tài nguyên.

Bởi vậy, cần nhận biết sự đánh đổi giữa độ chính xác và hiệu quả của mô hình và lựa chọn yếu tố nào thích hợp nhất với hoàn cảnh, cũng như lưu tâm đến lượng khí thải carbon của mô hình trong quá trình đào tạo và khi nó đưa ra các phân tích suy luận. Đây là một công việc khá phức tạp: trong mỗi quy trình - từ các phép toán đơn giản (cộng, trừ, nhân, chia, gán biến) để tạo ra mô hình đến phần cứng tính toán GPU hoặc CPU, hoặc lưu trữ đám mây và làm mát máy chủ - đều có thể ảnh hưởng đến tổng mức năng lượng mà AI sử dụng và lượng carbonmà AI thải ra.

Thậm chí, nguồn gốc năng lượng để chạy AI cũng rất quan trọng. Năng lượng chủ yếu đến từ nguồn tái tạo như điện gió, điện mặt trời... sẽ giúp giảm dấu chân carbon nhiều hơn từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt.

Khi tính đến những ràng buộc như vậy, chúng ta có thể làm cho AI trở thành một công nghệ đỉnh cao, đồng thời là một tài sản lớn trong việc bảo vệ khí hậu toàn cầu.

Nguồn:

What would it take to make AI ‘greener’?

Trang Linh lược dịch (Theo WEF)
Theo https://khoahocphattrien.vn (ntptuong)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Xem nhiều

Tiêu điểm

Chuyển đổi số tại Cần Thơ: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp
Nỗ lực hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, đảm bảo kết nối thông suốt
Tập trung cao độ cho phát triển kinh tế - xã hội thành phố
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại
Lãnh đạo UBND thành phố Cần Thơ làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ về tình hình hoạt động sau khi hợp nhất ba địa phương
Hội đồng tư vấn, giao trực tiếp tổ chức chủ trì nhiệm vụ KH&CN (Tư vấn và chứng nhận Tiêu chuẩn ISO 9001:2015 – Hệ thống quản lý chất lượng - Các yêu cầu và Tiêu chuẩn ISO 14001:2015 – Hệ thống quản lý môi trường) thuộc Chương trình NSCL năm 2025
Microsoft cáo buộc nhóm tin tặc đứng sau mạng lưới Deepfake AI
Công nghệ lưu trữ lượng tử vừa đạt đột phá: Chứa 5.000 phim 4K trên một tinh thể bé hơn đầu ngón tay?
Sony tuyên bố hợp tác gây chấn động ngành game, mang tính năng độc quyền trên AMD RX 9000 đến PS5 Pro, vạch ra tương lai cho PS6
Startup xe điện Dat Bike đã không còn "trong tay” người Việt
Trung Quốc tự đẩy mình vào 'thời khắc sinh tử': 300 startup xe điện chỉ còn 7 hãng lớn có thể tồn tại, chiến trường xe điện khốc liệt hơn bất kỳ lúc nào
Chuyên gia Phạm Chi Lan chỉ ra 4 điểm yếu của các nhà sáng lập Việt: Nhiều startup cho rằng xuất khẩu được mới 'oai', trong khi thị trường nội còn khó hơn ngoại
Startup KAMEREO ‘ấm bụng’ trong ‘mùa đông gọi vốn’: Hoàn tất vòng Series B với 7,8 triệu USD từ 5 ‘đồng hương’ Nhật Bản
Founder - CEO Amslink: Kiến tạo tương lai Anh ngữ cho thế hệ trẻ Việt
CASTI Awards 2024 - Tôn vinh sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Siêu thị số  
 
Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.


 
Công nghệ 4.0  
 
Một tầm nhìn do cộng đồng đề xuất về nguồn tri thức mới cho trí tuệ nhân tạo
Nghiên cứu do nhóm các tác giả Vinay K Chaudhri, Chaitan Baru, Brandon Bennett, Mehul Bhatt, Darion Cassel, Anthony G Cohn, Rina Dechter, Esra Erdem, Dave Ferrucci, Ken Forbus, Gregory Gelfond, Michael Genesereth, Andrew S. Gordon, Benjamin Grosof, Gopal Gupta, Jim Hendler, Sharat Israni, Tyler R. Josephson, Patrick Kyllonen, Yuliya Lierler, Vladimir Lifschitz, Clifton McFate, Hande Küçük McGinty, Leora Morgenstern, Alessandro Oltramari, Praveen Paritosh, Dan Roth, Blake Shepard, Cogan Shimizu, Denny Vrandečić, Mark Whiting, Michael Witbrock thuộc Công ty TNHH Nghiên cứu Hệ thống Tri thức, Sunnyvale, Hoa Kỳ thực hiện.


 
Điện tử  
 
Agility Robotics đổi tên thương hiệu thành Agility
Công ty phát triển robot hình người Agility Robotics vừa chính thức đổi tên thành Agility, loại bỏ phần “Robotics” trong thương hiệu. Trong bài đăng blog mới, công ty cho biết sự thay đổi này nhằm “mở rộng không gian phát triển khi chúng tôi khám phá thêm các ứng dụng, dịch vụ và ngành công nghiệp mới.”


 
Tin học  
 
Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.


 



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này