Điện tử [ Đăng ngày (25/09/2021) ]
iPhone 13 hay iPhone 12S?
Thói quen nâng cấp bản iPhone "S" của Apple không thay đổi, họ chỉ ngừng quảng cáo về nó mà thôi.

Apple có rất nhiều thứ để nói về dòng iPhone 13 mới ra mắt. iPhone 13, 13 mini, 13 Pro và 13 Pro Max có thời lượng pin tốt hơn, con chip A15 Bionic nhanh hơn, phần màn hình khuyết đỉnh nhỏ hơn, camera nâng cấp và với phiên bản Pro là màn hình 120 Hz ProMotion.

Có cả tá những nâng cấp quan trọng nhưng thực tế, nhiều người sẽ không thể phân biệt được giữa iPhone 13 và iPhone 12. Apple cũng "cẩn thận" không so sánh hiệu năng của chip A15 Bionic với chip A14 Bionic năm ngoái mà đem "đối thủ" ra để so (mặc dù không nói đối thủ nào. Không có sự đột phá nào với hệ sinh thái sạc MagSafe mà Apple khởi động năm ngoái, máy cũng vẫn dùng cổng sạc Lightning cũ kỹ.

Do đó, nhiều chuyên gia quốc tế đã gọi đây là một chiếc "iPhone 12S" – ám chỉ đây chỉ là bản nâng cấp nhỏ so với thế hệ trước. "S" cũng là tên gọi quen thuộc Apple sử dụng cho các phiên bản iPhone chỉ nâng cấp về cấu hình, không thay đổi kiểu dáng sản phẩm trước đây. iPhone 3GS, 4S, 5S, 6S và XS trước đây đều dùng tên gọi này.

Apple bắt đầu thay đổi công thức với chiếc iPhone 7 ra mắt năm 2016. iPhone 7 lẽ ra phải là một bản nâng cấp về thiết kế thì lại không thay đổi nhiều so với iPhone 6S. Sau năm đó, hãng cũng không ra mắt iPhone 7S mà trình làng iPhone 8 và mẫu iPhone X.

Đến 2018 khi hãng tung ra iPhone XS, nhiều người tin rằng dòng S đã quay trở lại thì sau iPhone 11, hãng liên tục ra mắt iPhone 12 và 13.

Tất nhiên, cách gọi tên không phải yếu tố quyết định đến thành bại của sản phẩm. Tuy nhiên các năm trước đây, tên gọi "S" trong sản phẩm của Apple mang tính định hướng rất tốt cho người dùng. Khi hãng ra mắt một chiếc smartphone dòng "S", nó như một lời khẳng định: Đây là bản nâng cấp về cấu hình, không phải thay đổi ngoại hình. Nếu quan tâm đến cấu hình, đây là lựa chọn cho bạn. Nếu bạn thích một chiếc iPhone mới mẻ về kiểu dáng, xin mời đợi đến năm sau.

Thực tế, thị trường smartphone đã thay đổi và Apple đang tìm cách thích nghi. Việc 2 năm nâng cấp smartphone một lần, đặt tên gọi "S" để phân biệt đó chỉ phù hợp với trước đây, khi hãng có đúng 1, hoặc cùng lắm là 2 chiếc smartphone ra mắt mỗi năm.


Apple đứng trước áp lực lớn phải thay đổi vì thị trường đã và đang thay đổi liên tục.

Thay vì nâng cấp iPhone mỗi năm, người dùng tại Mỹ có xu hướng đợi 2 năm để nâng cấp điện thoại một lần, còn người dùng tại Anh thậm chí đợi 28 tháng, theo CNBC. Do đó, thay vì tập trung vào các bản nâng cấp lớn, Apple giờ đây có vẻ ưu tiên ra mắt nhiều dòng sản phẩm hơn để thu hút người dùng ở nhiều tầm giá khác nhau. Cho đến năm 2017, hãng chỉ bán 2 chiếc smartphone cao cấp là iPhone 7 và 7 Plus. Đến năm tiếp theo, hãng cho ra mắt 3 smartphone (8, 8 Plus và X) và đến 2020 là 4 model.

Việc gây "loạn" với tên gọi iPhone mới chỉ chứng minh một điều, Apple đang rất muốn người dùng mua iPhone 13, sau một năm quá thành công với iPhone 12 series. Áp lực doanh số chắc chắn rất lớn vì không nhà đầu tư nào muốn một kết quả kinh doanh thụt lùi. Mọi thứ đều phải mới mẻ và hấp dẫn nhất có thể.

Do đó, những chiếc iPhone ra mắt vào năm nay lẽ ra nên được đặt tên là iPhone 12S nhưng ngành công nghiệp smartphone đã thay đổi, và Apple cũng phải thay đổi theo guồng quay đó.

Tham khảo: The Verge
Theo www.cafef.vn (nnttien)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn

Xem nhiều

Tiêu điểm

Chuyển đổi số tại Cần Thơ: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp
Nỗ lực hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, đảm bảo kết nối thông suốt
Tập trung cao độ cho phát triển kinh tế - xã hội thành phố
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại
Lãnh đạo UBND thành phố Cần Thơ làm việc với Sở Khoa học và Công nghệ về tình hình hoạt động sau khi hợp nhất ba địa phương
Hội đồng tư vấn, giao trực tiếp tổ chức chủ trì nhiệm vụ KH&CN (Tư vấn và chứng nhận Tiêu chuẩn ISO 9001:2015 – Hệ thống quản lý chất lượng - Các yêu cầu và Tiêu chuẩn ISO 14001:2015 – Hệ thống quản lý môi trường) thuộc Chương trình NSCL năm 2025
Microsoft cáo buộc nhóm tin tặc đứng sau mạng lưới Deepfake AI
Công nghệ lưu trữ lượng tử vừa đạt đột phá: Chứa 5.000 phim 4K trên một tinh thể bé hơn đầu ngón tay?
Sony tuyên bố hợp tác gây chấn động ngành game, mang tính năng độc quyền trên AMD RX 9000 đến PS5 Pro, vạch ra tương lai cho PS6
Startup xe điện Dat Bike đã không còn "trong tay” người Việt
Trung Quốc tự đẩy mình vào 'thời khắc sinh tử': 300 startup xe điện chỉ còn 7 hãng lớn có thể tồn tại, chiến trường xe điện khốc liệt hơn bất kỳ lúc nào
Chuyên gia Phạm Chi Lan chỉ ra 4 điểm yếu của các nhà sáng lập Việt: Nhiều startup cho rằng xuất khẩu được mới 'oai', trong khi thị trường nội còn khó hơn ngoại
Startup KAMEREO ‘ấm bụng’ trong ‘mùa đông gọi vốn’: Hoàn tất vòng Series B với 7,8 triệu USD từ 5 ‘đồng hương’ Nhật Bản
Founder - CEO Amslink: Kiến tạo tương lai Anh ngữ cho thế hệ trẻ Việt
CASTI Awards 2024 - Tôn vinh sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Siêu thị số  
 
Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.


 
Công nghệ 4.0  
 
Một tầm nhìn do cộng đồng đề xuất về nguồn tri thức mới cho trí tuệ nhân tạo
Nghiên cứu do nhóm các tác giả Vinay K Chaudhri, Chaitan Baru, Brandon Bennett, Mehul Bhatt, Darion Cassel, Anthony G Cohn, Rina Dechter, Esra Erdem, Dave Ferrucci, Ken Forbus, Gregory Gelfond, Michael Genesereth, Andrew S. Gordon, Benjamin Grosof, Gopal Gupta, Jim Hendler, Sharat Israni, Tyler R. Josephson, Patrick Kyllonen, Yuliya Lierler, Vladimir Lifschitz, Clifton McFate, Hande Küçük McGinty, Leora Morgenstern, Alessandro Oltramari, Praveen Paritosh, Dan Roth, Blake Shepard, Cogan Shimizu, Denny Vrandečić, Mark Whiting, Michael Witbrock thuộc Công ty TNHH Nghiên cứu Hệ thống Tri thức, Sunnyvale, Hoa Kỳ thực hiện.


 
Điện tử  
 
Agility Robotics đổi tên thương hiệu thành Agility
Công ty phát triển robot hình người Agility Robotics vừa chính thức đổi tên thành Agility, loại bỏ phần “Robotics” trong thương hiệu. Trong bài đăng blog mới, công ty cho biết sự thay đổi này nhằm “mở rộng không gian phát triển khi chúng tôi khám phá thêm các ứng dụng, dịch vụ và ngành công nghiệp mới.”


 
Tin học  
 
Hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trong điều kiện phòng thí nghiệm
Cảm biến áp lực đất được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa kỹ thuật nhằm xác định ứng suất đất tại vị trí lắp đặt trong khối đất hoặc tại giao diện giữa đất và kết cấu công trình. Tuy nhiên, giá trị đo được từ cảm biến chịu ảnh hưởng đáng kể bởi điều kiện làm việc, môi trường đo và phương pháp hiệu chuẩn. Do đó, việc hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất trước khi đưa vào sử dụng thực tế là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo độ chính xác của kết quả đo. Bài báo này tập trung nghiên cứu hiệu chuẩn cảm biến áp lực đất dạng màng ngăn có đường kính 30 mm (earth pressure cell – EPC) của hãng Kyowa trong điều kiện phòng thí nghiệm. Quá trình hiệu chuẩn được thực hiện trong hai môi trường khác nhau là môi trường chất lỏng và môi trường đất cát bão hòa nhằm đánh giá sự khác biệt về độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cảm biến có độ nhạy cao hơn khi hiệu chuẩn trong môi trường chất lỏng so với môi trường đất cát bão hòa với chiều dày lớp cát bằng 6,5 lần đường kính cảm biến. Các phương trình hiệu chuẩn thu được đều có dạng tuyến tính, với hệ số tương quan và độ tin cậy cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho việc ứng dụng cảm biến áp lực đất trong đo đạc ứng suất đất phục vụ thiết kế và thi công công trình địa kỹ thuật.


 



© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này