Trí tuệ nhân tạo [ Đăng ngày (19/03/2018) ]
Vượt qua “vũng lầy” của công nghệ IoT
Các dự án IoT thành công trên thế giới mới ở mức thí điểm và chưa vượt qua quy mô ngoài một thành phố. Các sáng kiến IoT chỉ tập trung ở một số ý tưởng na ná giống nhau. Đó còn chưa kể, chính sách và cơ sở hạ tầng, kể cả ở những nước phát triển cũng chưa đáp ứng được việc áp dụng IoT trên diện rộng.

Vòm dữ liệu, nơi tập trung và trực quan hóa các dữ liệu của thành phố Bristol – một phòng thí nghiệm sống của công nghệ IoT ở Anh. Nguồn: Bristol Is Open

Từ khóa “IoT” đã không còn là một khái niệm thời thượng trong vài năm gần đây. Công nghệ này đã vượt qua giai đoạn bị thổi phồng bởi truyền thông và kì vọng của xã hội để tiến đến giai đoạn đi vào thực tế  đầy gian nan: Theo báo cáo “Internet Vạn vật: Nền tảng mới cho quan hệ chính phủ - doanh nghiệp” của World Bank công bố trong một sự kiện được World Bank và Bộ KH&CN tổ chức gần đây, các dự án IoT thành công trên thế giới mới ở mức thí điểm và chưa vượt qua quy mô ngoài một thành phố. Các sáng kiến IoT chỉ tập trung ở một số ý tưởng na ná giống nhau. Đó còn chưa kể, chính sách và cơ sở hạ tầng, kể cả ở những nước phát triển cũng chưa đáp ứng được việc áp dụng IoT trên diện rộng.

Giai đoạn khó khăn này được gọi là “đầm lầy” mà mọi loại công nghệ đều phải vượt qua để có thể trở nên hiệu quả, rẻ và phổ biến. Báo cáo chỉ ra rằng, để IoT có thể áp dụng rộng rãi, chính phủ có vai trò quan trọng. Điểm chung của một số ít ỏi những dự án thành công trên thế giới nằm ở việc chính quyền kiên trì theo đuổi việc áp dụng IoT, thậm chí lãnh đạo còn là người am hiểu và thành thạo về công nghệ. Chính quyền mới có thể tạo ra một cơ chế, nền tảng để khối chính phủ, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cùng phối hợp phát triển các giải pháp phục vụ người dân trên diện rộng. Bên cạnh đó là đầu tư cho cơ sở hạ tầng viễn thông và tạo ra những “phòng thí nghiệm sống” cho những giải pháp và chính sách mới.

Theo anh Nguyễn Thế Trung, Tổng giám đốc công ty DTT, từng triển khai một số các dự án IoT thử nghiệm ở Hải Phòng, Đà Nẵng và Tp. Hồ Chí Minh, phát biểu tại sự kiện, Việt Nam hiện nay hoàn toàn có thể làm chủ các giải pháp phần mềm và phần cứng sơ bộ. Tuy nhiên, các dự án IoT do tư nhân triển khai chỉ có ảnh hưởng và quy mô khiêm tốn nếu nhà nước thiếu một tầm nhìn về việc phát triển công nghệ này. Anh cho biết, đây là “câu chuyện 20 năm” và trước hết chính phủ phải xác định được động lực để phát triển IoT là gì: để tạo ra những mô hình thành phố thông minh giống như Singapore, Estonia nhằm bán gói giải pháp cho cả thế giới hay để tối ưu hiệu quả kinh tế xã hội như các quốc gia khác? Ngoài ra, có hai hướng để chính phủ phối hợp với tư nhân: Đầu tư vào những công nghệ chưa thấy rõ hiệu quả, nhưng có thể làm được ngay hay đầu tư vào những công nghệ rất hiệu quả nhưng chưa ai làm được?

Những người tham gia sự kiện có phần nghiêng về đáp án thứ hai, cho cả hai vấn đề trên. Ông Nguyễn Thắng, Giám đốc Trung tâm phân tích và dự báo (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) gợi ý, trong rất nhiều lĩnh vực và công nghệ liên quan đến IoT, Việt Nam nên mạnh dạn đầu tư cho ngành Khoa học dữ liệu và giáo dục STEM, cụ thể là tập trung vào hai kỹ năng lập trình và toán (để phân tích, nhận diện các mẫu trong khối lượng dữ liệu lớn). Ông cũng cho rằng Việt Nam nên phát triển nền tảng IoT của mình, dù có thể mất một cái giá cao hơn việc nhập khẩu từ nước ngoài vì “thà đánh đổi hiệu quả kinh tế còn hơn là mất an ninh và quyền sở hữu tài nguyên số quốc gia”.

Đồng tình với ý kiến này, ông Nguyễn Thái Hưng, nguyên đại diện tập đoàn Siemens tại Việt Nam cho biết, từ kinh nghiệm của cá nhân ông, Việt Nam từ trước đến nay quá chú trọng đến khâu tự động hóa mà bỏ qua việc “tối ưu hóa hiệu quả công việc dựa trên dữ liệu”. Ông cho rằng, khái niệm “vật” trong internet của vạn vật nên hiểu là những hệ thống nhà máy lớn và để kết nối chúng cần những trí tuệ chuyên ngành kết hợp với công nghệ thông tin. Về việc phát triển nền tảng, ông cũng gợi ý là nên xây dựng các nền tảng IoT tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo.

Trên thực tế, theo ông Trần Đình Khả, Vụ trưởng Vụ CNTT (Bộ TT&TT), chính phủ Việt Nam cũng bắt đầu nhận thức về tầm quan trọng của dữ liệu, và đang có ý tưởng xây dựng khung pháp lý về quản lý, tái tạo, tạo ra, làm chủ dữ liệu để phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội.

Hảo Linh
Theo tiasang.com.vn (ntbtra)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn


Ứng dụng mô hình Sarima trong dự báo sản lượng xuất khẩu bột cá của Việt Nam
Xuất khẩu thủy sản nói chung và bột cá nói riêng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu nông – thủy sản của Việt Nam, góp phần tạo nguồn ngoại tệ, giải quyết việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế vùng ven biển. Tuy nhiên, sản lượng xuất khẩu bột cá có xu hướng biến động mạnh theo thời gian do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như nguồn nguyên liệu đầu vào, biến động thị trường quốc tế, chính sách thương mại và các hiệp định thương mại tự do. Do đó, việc dự báo chính xác sản lượng xuất khẩu bột cá có ý nghĩa thiết thực trong công tác hoạch định chính sách và quản lý xuất khẩu. Nghiên cứu này tập trung ứng dụng mô hình SARIMA nhằm dự báo sản lượng xuất khẩu bột cá của Việt Nam trong 8 tháng cuối năm 2023. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ Tổng cục Hải quan Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 04 năm 2023. Quá trình phân tích và dự báo được thực hiện bằng phần mềm R, ngôn ngữ lập trình Python, kết hợp tham khảo gợi ý từ trí tuệ nhân tạo của OpenAI. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình SARIMA(1,0,0)(1,0,0)12_{12}12 là mô hình phù hợp nhất để dự báo sản lượng xuất khẩu bột cá của Việt Nam, với độ chính xác cao và sai lệch thấp so với số liệu thực tế. Trên cơ sở kết quả dự báo, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu bột cá, bao gồm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, quy hoạch hợp lý vùng nuôi trồng thủy sản và điều tiết sản lượng xuất khẩu nhằm đảm bảo cân đối cung – cầu trong nước.


Video

Sinh viên Việt Nam với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo: thực trạng, nhận thức và định hướng
Trong bối cảnh công nghệ số bùng nổ và AI trở thành hiện diện phổ quát trong đời sống và giáo dục, việc sinh viên tiếp cận và sử dụng trí tuệ nhân tạo đang đặt ra những câu hỏi mới về hành vi học tập, nhận thức đạo đức và định hướng ứng dụng trong môi trường đại học ở Việt Nam. Nghiên cứu của ThS. Tạ Tường Vi tại Trường Đại học Lao động – Xã hội khảo sát thực trạng này thông qua khảo sát 500 sinh viên và phỏng vấn sâu 20 sinh viên thuộc nhiều trường đại học trên địa bàn Hà Nội, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về hiện trạng nhận thức và thực hành sử dụng AI học thuật trong giới sinh viên.





© Copyright 2020 Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo - Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - Phường Cái Khế - thành phố Cần Thơ
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.trithuckhoahoc.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
-->