Xã hội-Nhân văn
[ Đăng ngày (03/12/2012) ]
|
|
Nghiên cứu lựa chọn công thức tính chỉ số khô hạn và áp dụng vào việc tính toán tần suất khô hạn ở Ninh Thuận
|
|
|
Nghiên cứu do GS.TS.Lê Sâm và Ths.NCS.Nguyễn Đình Vượng – Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam thực hiện nhằm phân tích, đánh giá và lựa chọn chỉ số hạn phù hợp, phản ảnh sát diễn biến hạn ở Ninh Thuận để đưa ra dự báo hạn hán trong khu vực.
|
Ảnh minh họa
Tác giả nghiên cứu một số công thức tính toán các chỉ số khô hạn trên thế giới và ở Việt Nam; lựa chọn công thức tính toán chỉ số khô hạn áp dụng cho tỉnh Ninh Thuận theo về xu hướng ẩm hơn so với thực tế khô hạn tại các vùng trên địa bàn tỉnh để tính ngưỡng các chỉ tiêu khô hạn K; chỉ số hạn năm, năn xuất hiện khô và tần suất xảy ra khô hạn khu vực miền núi tỉnh Ninh Thuận; tính chỉ số khô hạn năm xuất hiện khô hạn và tần suất xảy ra khô hạn khu vực đồng bằng tỉnh Ninh Thuận; tính chỉ số khô hạn năm, năm xuất hiện khô hạn và tần suất xảy ra khô hạn khu vực đồng bằng tỉnh Ninh Thuận.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khô hạn năm theo chỉ số cán cân nước K trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận ở khu vực miền núi tại khu vực trạm Tân Mỹ, khô hạn xảy ra ở hầu hết các năm, với mức độ từ hơi khô đến khô hạn chiếm tần suất lên đến 90%, trong đó khô hạn xảy ra chiếm tần suất 40%, năm xảy ra ẩm ướt chỉ chiến tần suất 10%. Tại khu vực Trạm sông Pha, tần suất xảy ra hơi khô chiếm 71,4%, năm ẩm ướt chiếm 28,6%. Đối với khu vực đồng bằng, tất cả các năm đều bị khô hạn, không có năm nào và nơi nào ẩm ướt. Hạn hán xảy ra ở mức hơi khô, tất cả các trạm đều có tần suất xuất hiện là 100%. Xét theo khô hạn năm từ mức khô đến rất khô thì khu vực xảy ra tần suất hạn cao nhất là Quán Thẻ 82,6%. Kế đến là Phan Rang 78,6%; Ba Tháp 77,8%; Nha Hố 72,4% và sau cùng là Nhị Hà 67,66%. |
dtphong
Theo Tuyển tập KH&CN năm 2008, Viện Thủy lợi Việt Nam |